- Tranh chấp gì? án hình sự — "hoàng thị b - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi; giữ nguyên các quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2025/HS-PT Ngày 20 tháng 01 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Đông
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Đình Lực
Ông Nguyễn Mạnh Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Thành, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 627/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
* Các bị cáo kháng cáo:
1. Hoàng Thị Bích, sinh năm 1961, tại phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/10; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình Nghĩa (đã chết) và bà Trịnh Thị Hiền (đã chết); chồng Đỗ Viết Ban (đã chết), có 04 người con lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: - Bản án số 16/2011/HSST ngày 25/5/2011, Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Bản án số 277/2012/HSST ngày 19/11/2012, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp với 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại bản án số 16/2011/HSST, của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, buộc Hoàng Thị Bích phải chấp hành hình phạt chung là 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 03/9/2017; (đều đã được xóa án tích).
- Ngày 10/01/2020, Công an tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác; (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị bắt giữ khẩn cấp ngày 25/8/2022 đến ngày 31/8/2022 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
2. Đỗ Viết Côi, sinh năm 1991; tại huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú và nơi ở: Bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết Tuấn (đã chết) và con bà Lê Thị Bình; vợ Lê Thị Hồng, có ba con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2013, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 24 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”; (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/8/2022, đến ngày 31/8/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Bích:
- Luật sư Lê Thị Hoa - Văn phòng Luật sư Việt Hà, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa (bào chữa theo yêu cầu); có mặt.
- Luật sư Lưu Hồng Chuyên - Văn phòng Luật sư Lưu & Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa (bào chữa do Tòa án chỉ định); có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Viết Côi (do Tòa án chỉ định): Luật Sư Nguyễn Thị Học - Công ty TNHH Minh Học, thuộc Đoàn luật sư Thanh Hoá; có mặt.
* Trong vụ án còn có: Các bị cáo Vi Văn Duẩn và Lê Hữu Việt đã rút kháng cáo ngày 14 tháng 11 năm 2004 nên Tòa án đã ban hành Quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của các bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Hữu Việt và Hoàng Thị Bích, thường hay qua lại với nhau, có mối quan hệ gần gũi thân cận vì Việt có mẹ đẻ là bà Lê Thị Chiến làm giúp việc cho gia đình Bích, Việt gọi Bích là “Dì Bích”. Khoảng đầu tháng 8/2022, khi Việt đến nhà Bích chơi, trong lúc nói chuyện Bích đặt vấn đề nhờ Việt mua ma túy cho Bích, Bích nói với Việt “Cháu có lấy được ở đâu cho dì ít hàng trắng (tức là Heroine) không” nhưng chưa nói rõ số lượng là bao nhiêu. Việt trả lời “Để cháu gọi điện hỏi xem thế nào rồi sẽ trả lời dì” Bích đồng ý, sau đó Việt tiếp tục đi làm. Đến ngày 15/8/2022, Lê Hữu Việt dùng số điện thoại 0978508303 gọi điện vào số 0372061542 của Vi Văn Duẩn (là người thân quen với Hoàng Thị Thái là chị gái Bích; Duẩn cũng biết Bích và các em của Bích), đặt vấn đề mua ma túy (Heroine) cho Bích. Việt hỏi Duẩn “Em có hàng (Heroine) không để cho anh 02 (Hai) bánh”. Duẩn nói “Dạo này em không làm nữa”. Thấy Duẩn trả lời như vậy Việt nói “Anh lấy hàng (tức 02 bánh Heroine) cho dì Bích”, nghe Việt nói lấy hàng cho dì Bích, Duẩn biết đó là dì Hoàng Thị Bích, em gái của Hoàng Thị Thái (mẹ kết nghĩa của Duẩn) nên Duẩn nói để Duẩn bảo với Đỗ Viết Côi (là em xã hội của Duẩn) lấy cho. Việt đồng ý và nói “lấy hàng chuẩn (tức là hàng chất lượng tốt) cho dì Bích nhé”, đồng thời hỏi Duẩn, giá 01 miếng (tức là 01 bánh Heroine) bây giờ là bao nhiêu, Duẩn nói “hàng chuẩn thì giá một bánh là 180.000.000đ (Một trăm tám mươi triệu đồng). Anh yên tâm lấy cho dì Bích thì em bảo lãnh về mặt chất lượng, nếu kém chất lượng em chịu trách nhiệm”, Việt đồng ý.
Sau khi thỏa thuận và thống nhất được giá Heroine với Duẩn, khoảng 13 giờ ngày 15/8/2022, Lê Hữu Việt gọi điện cho Bích, qua điện thoại Việt nói Bích chuyển tiền cho Việt để đi mua ma túy, Bích đồng ý, đồng thời bảo Việt đến nhà ở của Đỗ Viết Vũ (con trai Bích), hiện Bích đang ở đó. Việt một mình đi xe ôtô đến nhà Vũ để gặp Bích, khi đến nơi Việt gặp Nguyễn Thị Trang (con dâu của Bích) và Bích đang ở nhà. Bích và Việt đi vào trong phòng ngủ của vợ chồng Vũ và Trang, dưới tầng 1 đối diện với phòng khách. Tại đây Việt và Bích trao đổi công việc riêng với nhau có Trang nhìn thấy nhưng không biết trao đổi việc gì. Việt nói với Bích đã liên hệ với Duẩn mua 02 bánh Heroine, giá 01 bánh là 220.000.000đ (Hai trăm hai mươi triệu đồng), tổng 02 bánh là 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng), Bích đồng ý, rồi lấy ra số tiền 440.000.000 đồng đưa cho Việt. Nhận tiền của Bích, Việt kiểm đếm lại thấy đủ, Việt gói lại bỏ vào trong túi nilon và đem ra cất vào trong xe, rồi lái xe đi làm bình thường.
Đến khoảng hơn 08 giờ sáng ngày 16 hoặc 17/8/2022, Việt không nhớ chính xác ngày, Việt dùng số điện thoại 0978508303 gọi cho Vi Văn Duẩn hỏi Duẩn có xuống thành phố Thanh Hóa không hay đang trên Quan Sơn. Duẩn trả lời đang đi công việc ở thành phố Thanh Hóa. Việt nói muốn gặp Duẩn để đưa tiền mua 02 bánh Heroine, Duẩn trả lời hiện đang đi công việc riêng đến trưa thì mới về xưởng gỗ nhà cậu Công (tức Công Ngộ) là em trai Hoàng Thị Bích, ở phố Tân Cộng, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa. Đến khoảng 11 giờ 30 cùng ngày Việt gọi điện lại cho Duẩn hỏi về chưa, Duẩn nói đang ở xưởng gỗ nhà cậu Công rồi, Việt hẹn Duẩn cứ ở đó bây giờ Việt lại, Duẩn đồng ý. Sau đó Việt lấy số tiền 190.000.000đ (Một trăm chín mươi triệu đồng) trong tổng số tiền 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) Bích đã đưa cho Việt trước đó tại nhà Vũ gồm có các mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng); 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) nhưng không nhớ rõ số tờ của từng mệnh giá là bao nhiêu tờ, bỏ vào túi nilon màu đen, rồi mang đến xưởng gỗ nhà Công đưa cho Duẩn. Đến nơi Việt thấy Duẩn đang ngồi một mình trong phòng bảo vệ của xưởng gỗ, Việt vào trong gặp, tại đây Việt đưa tiền mua 02 bánh Heroine cho Duẩn. Khi đưa tiền cho Duẩn, Việt nói với Duẩn ở đây mới có 190.000.000 đồng, còn thiếu 170.000.000 đồng, Việt hẹn khi nào nhận ma túy sẽ đưa đủ, Duẩn đồng ý, đồng thời bảo Việt để tiền ở ghế cạnh đầu giường trong phòng bảo vệ cho Duẩn, sau đó Việt đi về nhà.
Vi Văn Duẩn khai nhận: Sau khi thỏa thuận thống nhất với Việt, Duẩn điện thoại cho một người đàn ông tên là Đua, ở bản Khằm 1, xã Trung Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa (là người quen của Duẩn, trước đây Đua đi học cấp ba, ở trọ gần nhà Duẩn nên quen biết nhau), hỏi mua 02 (Hai) bánh Heroine. Đua báo giá 01 (một) bánh Heroine là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng), Duẩn đồng ý. Sau đó Duẩn điện thoại báo lại cho Đỗ Viết Côi biết Đua báo giá 01 (một) bánh Heroine là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng) để Côi chủ động trực tiếp liên hệ giao dịch mua bán ma túy với Đua nhưng Đỗ Viết Côi khai nhận không biết Đua và không liên lạc với Đua để đặt mua 02 (Hai) bánh Heroine như Duẩn khai báo và khai nhận vào khoảng 14 giờ ngày 19/8/2022, Vi Văn Duẩn gọi điện thoại cho Côi bảo Côi hôm nay đi, tức là mang 02 bánh Heroine giao cho Việt, Côi đồng ý. Đến 19 giờ cùng ngày Duẩn tiếp tục gọi cho Côi bảo hôm nay chưa đi được vì an ninh chưa an toàn, việc giao dịch (giao 02 bánh Heroine cho Việt) sẽ hoãn lại.
Khoảng 13 giờ ngày 19/8/2022, Côi gọi cho Việt nói đã có hàng (tức ma túy) lên mà lấy, Việt trả lời để tối Việt lên. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/8/2022, Lê Hữu Việt một mình đi xe máy BKS 36B8 - 20607 lên huyện Quan Sơn gặp Côi để nhận ma túy. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đi đến Km30 Việt gọi điện cho Côi, hỏi Côi đang ở đâu để nhận ma túy, Côi trả lời vì an ninh không đảm bảo nên “hàng không xuống” (tức là không có ma túy), nghe Côi nói thế Việt quay xe đi về nhà. Khi Việt đi về đến Km số 0, thuộc địa phận huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa thì Việt nhận được điện thoại của Duẩn, qua điện thoại Duẩn hỏi Việt “Côi gọi cho anh chưa”, Việt trả lời “rồi, nhưng Côi nói vì an ninh không đảm bảo nên hàng không về”. Duẩn bảo Việt cứ đợi ở ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước để Duẩn gọi cho Côi xem thế nào. Việt đồng ý, rồi đi xe vào quán nước tại ngã ba Đồng Tâm chờ tin của Duẩn. Trong lúc đang chờ tin của Duẩn thì Việt nhận được điện thoại của Hoàng Thị Bích, gọi cho Việt bằng số điện thoại có ba số cuối là 116, Việt lưu trong danh bạ là “Bích Ban”. Qua điện thoại Bích hỏi Việt đang ở đâu Việt trả lời đang ở ngã ba Đồng Tâm, huyện Bá Thước, đồng thời Việt nói cho Bích biết không lấy được 02 (hai) bánh Heroine, lý do đầu trên (tức Đỗ Viết Côi) thông báo do an ninh chưa đảm bảo nên chưa giao ma túy có gì sẽ hẹn sang ngày mai. Nghe Việt nói vậy Bích nói thế là lỡ việc của dì rồi (tức là Bích đưa tiền cho Việt lên huyện Quan Sơn mua 02 bánh Heroine nhưng chưa mua được làm lỡ việc của Bích). Nói chuyện với Bích xong Việt gọi điện lại cho Duẩn hỏi tình hình thế nào thì Duẩn nói Việt cứ về đi, sau đó Việt đi về thành phố Thanh Hóa.
Đến khoảng 09 giờ ngày 20/8/2022, Đỗ Viết Côi đang ở nhà thì Duẩn gọi điện bảo Côi đến nhà Duẩn có việc. Khi Côi đến nhà Duẩn, Duẩn bảo Côi gọi điện cho Việt lên lấy hàng (ma túy). Đồng thời bảo Côi lấy luôn số tiền Việt mua 02 (hai) bánh Heroine còn thiếu là 170.000.000 đồng vì Việt đã đưa trước cho Duẩn là 190.000.000 đồng, Côi đồng ý rồi đi về nhà. Khoảng 14 giờ cùng ngày Côi gọi điện cho Việt và bảo Việt khoảng 20 giờ hôm nay (tức ngày 20/8/2022), đến Km39 để lấy hàng (ma túy) và Côi dặn cầm theo số tiền 170.000.000 đồng, Việt đồng ý và nói khi nào lên sẽ gọi lại cho Côi sau.
Khoảng 16 giờ Côi đến nhà Duẩn, tại đây Côi nói với Duẩn đã gọi điện cho Việt. Lúc này Duẩn lấy 02 (hai) bánh Heroine đưa cho Côi, đồng thời bảo Côi cầm lấy cất đi lúc nào Việt lên thì giao cho Việt. Côi nhận 02 (hai) bánh Heroine từ Duẩn đưa, rồi mang về nhà cất giấu ở gầm cầu thang để khi nào Việt gọi thì đem đi giao cho Việt (khi Côi nhận ma túy từ Duẩn, mang về cất giấu tại nhà Côi thì không có ai biết, tham gia).
Chiều ngày 20/8/2022 chị Nguyễn Thị Thủy, trú tại phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa (là vợ của Lê Hữu Việt) đang chuẩn bị đi chợ bán trái cây thì nghe thấy Bích gọi điện nói chuyện với Việt. Sau khi nói chuyện với Bích, Việt hỏi Thủy đăng ký xe máy 36B8- 20607 đang để ở đâu, Thủy trả lời con gái đang cầm. Chị Thủy hỏi lại Việt anh đi đâu mà lấy đăng ký xe, Việt trả lời đi xách hàng cho dì Bích (Thủy hiểu là Việt đi lấy ma túy cho Bích). Nghe Việt nói vậy, Thủy quyết liệt ngăn cản không cho Việt đi, Thủy nói với Việt “Anh làm thế là vi phạm pháp luật”. Nghe vợ nói như vậy Việt trả lời “Không đi nữa thì thôi”. Vì tin lời Việt nói là không đi nữa, nên Thủy đã chở trái cây ra chợ để bán. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày Việt cầm theo số tiền 170.000.000 đồng bỏ vào cốp xe VISON biển kiểm soát 36B8 -20607, rồi một mình đi lên điểm hẹn tại Km39 thuộc thị trấn Quan Sơn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa gặp Côi để nhận ma túy. Khi Việt đi đến Km22 hoặc 23 (do trời tối Việt không nhìn rõ) Việt gọi điện báo cho Côi biết sắp đến nơi (Km39). Côi bảo Việt cứ chạy tiếp và hẹn gặp ở Km39 chỗ đoạn đường sạt lở. Sau đó Côi lấy 02 (hai) bánh Heroine đã cất giấu trước đó tại nhà rồi một mình đi xe máy đến Km39 đợi Việt. Côi để 02 bánh Heroine ở chân cột của hàng rào chắn phía ta ly âm. Khi Việt đến điểm hẹn (Km39) thấy Côi đã đứng đợi tại đó. Việt đi lại chỗ Côi, lấy số tiền 170.000.000 đồng bỏ trong túi nilon màu đen từ trong cốp xe đưa cho Côi (Việt có xin lại Côi 3.000.000 đồng). Nhận tiền của Việt xong, Côi chỉ chỗ đang cất giấu ma túy cho Việt. Theo hướng dẫn của Côi, Việt đi đến cột của hàng rào chắn phía ta ly âm gần cột mốc Km39, thì nhìn thấy dưới chân cột của hàng rào chắn phía ta ly âm có một gói nilon màu đen, Việt cầm lên xác định bên trong là 02 (hai) bánh Heroine, nên Việt đã cầm gói ma túy đi lại xe bỏ vào trong túi nilon màu đỏ, sau đó bỏ vào trong túi đựng áo mưa màu đen và treo ở móc treo đồ xe máy 36B8-20607 rồi đi về thành phố Thanh Hóa, còn Côi đi về nhà hay đi đâu Việt không biết.
Khi Việt đi về đến Km 96+500 QL15A, thuộc khu phố Tỉu, thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa thì bị lực lượng Công an yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra Công an phát hiện và thu giữ 02 bánh hình chữ nhật đựng trong túi nilon màu đỏ, cho vào túi đựng áo mưa màu đen treo trên móc treo đồ xe máy 36B8-20607. Lê Hữu Việt khai nhận đó là 02 (hai) bánh Heroine, Việt mua của Duẩn và Côi để bán cho Hoàng Thị Bích. Tổ công tác đã tuyên bố bắt quả tang Lê Hữu Việt và thu giữ toàn bộ số vật chứng.
Quá trình điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vi Văn Duẩn, thu giữ các viên nén màu hồng và màu xanh là hồng phiến và 01 gói nilon đựng chất tinh thể mà trắng là ma túy đá. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Viết Côi, thu giữ 02 (hai) bánh Heroine và 10 (mười) túi Hồng phiến. Triệu tập làm việc với Vi Văn Duẩn, Đỗ Viết Côi, Hoàng Thị Bích; tại Cơ quan điều tra Vi Văn Duẩn, Đỗ Viết Côi đã xin đầu thú và tự nguyện khai báo về hành vi mua bán ma túy. Đỗ Viết Côi thừa nhận đã cùng với Vi Văn Duẩn, Lê Hữu Việt thực hiện hành vi mua bán trái phép 02 (hai) bánh Heroine, ngoài ra Côi còn cất giấu 02 (hai) bánh Heroine và 10 (mười) túi Hồng phiến ở nhà của mình. Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Thị Bích. Quá trình điều tra Hoàng Thị Bích không thừa nhận hành vi của mình, quanh co chối tội, tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ khẳng định, Hoàng Thị Bích đã có hành vi mua bán 02 bánh Heroine.
Về nguồn gốc 02 (hai) bánh Heroine và 10 (mười) túi Hồng phiến thu giữ khi khám xét nhà Đỗ Viết Côi, quá trình điều tra ban đầu Côi khai nhận chiều ngày 18/8/2022 Vi Văn Duẩn gọi điện thoại cho Côi đến khu vực gần xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa có việc. Tại đây Duẩn đã đưa cho Côi 02 bánh Heroine và 10 túi hồng phiến được bọc trong túi nilon màu đen và bảo Côi mang về nhà cất giấu khi nào Duẩn có khách mua sẽ bảo Côi mang đi giao cho khách, nhận ma túy từ Duẩn đưa Côi mang về nhà cất giấu. Quá trình điều tra về sau Côi thay đổi lời khai và khai báo về nguồn gốc 02 bánh Heroine và 10 túi hồng phiến là Côi mua của người đàn ông dân tộc Mông, tên là Súa, khoảng 35 tuổi (Côi không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể, Côi khai trước đây Súa làm sửa xe tại nhà Côi) với giá 100.000.000đ/01 bánh Heroine; ma túy hồng phiến mua với giá 2.000.000đ/01 túi sau đó mang về nhà cất giấu, để bán. Giai đoạn điều tra sau này Côi tiếp tục thay đổi lời khai và khai báo số ma túy trên Côi mua để sử dụng cho bản thân.
Đối với Vi Văn Duẩn khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình, đồng thời khai nhận các viên nén màu hồng và màu xanh mà cơ quan Công an khám xét thu giữ tại nhà Duẩn là ma túy hồng phiến, Duẩn mua của một người đàn ông không quen biết tại xã Sơn Thủy, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa với giá là 3.000.000 đồng vào ngày 13/8/2022 đem về nhà cất giấu để sử dụng cho bản thân. Còn gói nilon đựng chất tinh thể mà trắng là ma túy đá, Duẩn khai không phải là ma túy của Duẩn, không biết là của ai, tại sao lại có ở đó. Tuy nhiên, căn cứ vào tài liệu điều tra đã thu thập xác định gia đình Duẩn sinh sống cùng nhau có vợ Duẩn và mẹ đẻ của Duẩn, ngoài ra không có ai khác. Vợ Duẩn và mẹ Duẩn đều không nghiện ma túy, ngoài vợ Duẩn và mẹ Duẩn thì không có người lạ ra vào nhà. Bản thân Duẩn là người nghiện ma túy đã nhiều lần bị kết án về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo báo cáo của chính quyền địa phương thể hiện Duẩn nghiện ma túy loại ma túy sử dụng là hồng phiến và ma túy đá (Methamphetamine) phù hợp với loại ma túy đã thu giữ khi khám xét nơi ở của Vi Văn Duẩn. Do đó có đủ căn cứ xác định gói nilon đựng ma túy đá (Methamphetamine) nêu trên là của Duẩn cất giấu để sử dụng, nên buộc Vi Văn Duẩn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với tổng khối lượng ma túy đã thu giữ tại nhà Duẩn.
* Vật chứng và tài sản thu giữ:
+ Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: 02 (hai) bánh chất bột màu trắng, hình chữ nhật, kích thước khoảng (16x10x2) cm.
- 01 (một) xe máy Honda Vision, màu đen - đỏ gắn BKS 36B8-206.07.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung gắn hai sim, sim 1: 0978508303, sim 2: 0353246282, thu giữ của Lê Hữu Việt (BL 01-02).
+ Khám xét nơi ở của Lê Hữu Việt thu giữ:
- 03 (ba) điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động MASSTEL màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu xanh, đều là dạng máy bàn phím;
- 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu KIA, màu bạc, biển kiểm soát 36A - 20177.
- 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127227; DD075884; DD075883; BC031436, mang tên Hoàng Thị Bích;
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP127219, mang tên Lê Thành Long và Nguyễn Thị Mậu;
- 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 150/2022/HĐCN;
+ Khám xét nơi ở của Đỗ Viết Côi tại bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa thu giữ:
- 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật kích thước khoảng (14x10x3)cm bên ngoài đều được bọc một lớp nilon màu trắng, tiếp đến là nhiều lớp nilon màu xanh, vàng, trong cùng là chất rắn màu trắng;
- 10 (mười) túi nilon trong đó có 08 (tám) túi màu xanh và 02 (hai) túi màu hồng, bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh.
- 04 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh; 01 điện thoại OPPO màu vàng; 01 điện thoại IPHONE màu xanh, 01 điện thoại IPHONE màu xám.
- Tiền Việt Nam 167.000.000VNĐ (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng), vợ Côi là Lê Thị Hồng tự nguyện giao nộp.
+ Khám xét nơi ở của Vi Văn Duẩn tại bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa thu giữ:
- 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh (thu trên đệm giường ngủ hai vợ chồng).
- 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng chất tinh thể màu trắng (thu giữ bên cạnh gầm giường ngủ của vợ chồng Vi Văn Duẩn);
- 02 (hai) điện thoại di động NOKIA màu đen, loại máy bàn phím, máy cũ đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe ôtô nhãn hiệu MAZDA, số loại BT50, màu trắng, gắn biển kiểm soát 36C-28471, xe cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng;
- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 069509, tên chủ xe Lương Văn Ngay;
- Tiền Việt Nam 3.216.500.000đ (Ba tỷ hai trăm mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). (BL 73-74)
+ Khám xét nơi ở của Hoàng Thị Bích tại Phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa và cơ sở kinh doanh ăn uống của Hoàng Thị Bích ở Phố Tân Cộng, phường Đông Tân, do con trai Bích là Đỗ Viết Vũ quản lý, thu giữ:
Thu tại cơ sở kinh doanh ăn uống:
- 01 (một) túi nilon màu trắng đựng các hạt tinh thể màu trắng;
- 06 (sáu) gói nilon trong đó có 01gói màu trắng và 05 gói màu đen đều đựng chất bột màu trắng, trong bình cắm hoa tại bàn thờ ông Thần Tài.
Thu trong vườn phía sau nhà Đỗ Viết Vũ:
+ 01 (một) túi nilon bên trong có chất tinh thể màu trắng;
+ 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có 07 viên màu hồng và 01 viên màu xanh;
+ 01 (một) khẩu súng hơi, bắn đạn chì.
Thu giữ tại nơi ở của Hoàng Thị Bích tại phố Tân Cộng, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa: 03 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại Iphone màu vàng gắn sim 0793.115.116; 01 điện thoại Nokia gắn sim 0971.368.263 và 01 điện thoại Nokia màu đen). (BL 59-60).
* Kết quả trưng cầu giám định chất ma túy:
Tại bản kết luận giám định số 2889/KL-KTHS, ngày 26/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
+ 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, lớp giấy dầu màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 696,77 gam là ma túy, loại Heroine (thu giữ khi bắt quả tang Lê Hữu Việt).
+ 02 (hai) khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài từng bánh được bọc lớp nilon màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu xanh, màu vàng, trong cùng là lớp nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng khối, gửi giám định có tổng khối lượng 697,68 gam là ma túy, loại Heroine; 01 (một) túi nilon màu đen đựng 10 (mười) túi bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 183,08 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Đỗ Viết Côi).
+ 01 (một) túi nilon màu đen và 01 (một) túi nilon màu xanh bên trong các túi đều có nhiều viên nén màu hồng và màu xanh, gửi giám định có tổng khối lượng 31,52 gam là ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng chất tinh thể màu trắng, gửi giám định có khối lượng 22,11 gam là ma túy, loại Methamphetamine (thu giữ khám xét nơi ở Vi Văn Duẩn).
+ Đối với tổng khối lượng ma túy đã thu giữ qua khám xét cơ sở kinh doanh ăn uống của Hoàng Thị Bích ở phố Tân Cộng, phường Đông Tân, do con trai Bích là Đỗ Viết Vũ quản lý, là 2,44 gam Methamphetamine; 1,60 gam Heroine; 1,22 gam Ketamine. Quá trình điều tra Đỗ Viết Vũ đã đầu thú khai báo số ma túy trên là do Vũ nhặt được, cất giấu trong nhà để sử dụng cho bản thân.
* Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:
+ Đối với đồ vật, tài sản thu của Lê Hữu Việt:
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu đen - đỏ, BKS 36B8-206.07. Kết quả tra cứu xác định chiếc xe trên đứng tên đăng ký là Lê Thị Thúy Hằng, sinh ngày 04/3/2002, nơi thường trú phố Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa (con gái Lê Hữu Việt), xe không có trong danh sách quản lý xe vật chứng. Tiến hành ghi lời khai, Hằng khai nhận chiếc xe trên là của Hằng mua năm 2021 làm phương tiện đi lại. Đầu tháng 8/2022, Hằng ra TP. Hà Nội học tập, sinh sống nên để xe máy cùng chìa khóa ở nhà. Việc Việt lấy xe máy của Hằng để làm phương tiện thực hiện hành vi mua bán ma túy ngày 20/8/2022, Hằng hoàn toàn không biết và không liên quan. Ngày 12/12/2022, Lê Thị Thúy Hằng có đơn xin lại tài sản. Do đó Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Thúy Hằng quản lý và sử dụng theo quy định của pháp luật.
- 04 (bốn) điện thoại di động thu giữ của Lê Hữu Việt. Việt khai nhận chỉ dùng điện thoại di động Samsung gắn 02 sim 0978508303; 0353246282 để liên hệ mua bán trái phép chất ma túy. Còn 03 chiếc điện thoại thu giữ khi khám xét, không liên quan đến hành vi phạm tội của Việt.
- 01 (một) xe ôtô biển số 36A-201.77. Quá trình điều tra xác định là xe của bị cáo Lê Hữu Việt, đăng ký chính chủ là tài sản chung của vợ chồng Việt và chị Nguyễn Thị Thủy, nguồn tiền để mua xe là do vợ chồng tích góp mà có. Vợ chồng Việt mua xe với mục đích để Việt chạy dịch vụ Taxi gia đình, đồng thời làm phương tiện đi lại của gia đình, ngoài ra không có mục đích khác. Ngày 15/8/2022, Việt đã dùng xe ôtô trên đi đến nhà Đỗ Viết Vũ, gặp Bích lấy số tiền 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng) để đi mua ma túy cho Bích. Kết quả tra cứu phương tiện giao thông, xác định đứng tên đăng ký chủ phương tiện là Lê Hữu Việt, xe không có trong danh sách dữ liệu xe vật chứng của vụ án.
- Số tiền 47.500.000đ (Bốn bảy triệu năm trăm nghìn đồng) đã thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nhà ở của Lê Hữu Việt. Việt khai nhận sau khi nhận số tiền 440.000.000đ (Bốn trăm bốn mươi triệu đồng), từ Hoàng Thị Bích tại nhà ở của vợ chồng Đỗ Viết Vũ, Việt đã đưa cho Duẩn 190.000.000 đồng và Côi 170.000.000 đồng để mua 02 bánh Heroine; đưa cho Lê Viết Thắng là bạn của Duẩn số tiền 30.000.000 đồng, còn lại 50.000.000 đồng Việt lấy ra 2.500.000 đồng để đổ xăng và chi tiêu cá nhân còn lại số tiền 47.500.000 đồng Việt cất giấu tại nhà, khi khám xét Cơ quan Công an đã thu giữ.
+ Đối với đồ vật, tài sản thu của Vi Văn Duẩn:
- 02 (Hai) điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA màu đen. Duẩn khai nhận trong số 02 điện thoại di động trên Duẩn khai chỉ dùng điện thoại di động NOKIA màu đen gắn sim số 0372061542, liên hệ mua bán ma túy. Chiếc điện thoại còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội của Duẩn.
- Xe ôtô nhãn hiệu MAZDA, BT50, màu trắng, biển kiểm soát 36C-28471; cùng đăng ký xe số 069509, mang tên Lương Văn Ngay. Duẩn khai nhận đó là xe Duẩn mượn của anh rể Lương Văn Ngay, làm phương tiện đi lại. Quá trình điều tra xác minh kết quả cho thấy chiếc xe nói trên là vật chứng trong vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” trước đây Vi Văn Tạo (anh trai của Vi Thị Diệp, Vi Văn Duẩn, chính là anh vợ của Lương Văn Ngay) đã sử dụng chiếc xe ôtô có đặc điểm nêu trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, cụ thể là Lương Văn Tạo đã cất giấu 03 bánh Heroine trên xe ôtô, rồi lái xe vận chuyển từ huyện Quan Sơn đến thành phố Sầm Sơn, để bán cho khách và đã bị bắt, tuyên phạt án tử hình.
- Đối với số tiền 3.216.500.000đ (Ba tỷ hai trăm mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi đầu thú Vi Văn Duẩn khai nhận: Gia đình Duẩn có khoảng “Ba tỷ năm trăm triệu đồng”, Duẩn trả tiền thuê người múc đất hết 250.000.000 “Hai trăm năm mươi triệu”, làm nhà hết khoảng “Bảy mươi triệu”. Số tiền còn lại 3.216.500.000VNĐ (Ba tỷ hai trăm mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) cất giữ tại gầm giường nhà Duẩn, Công an đã thu giữ khi khám xét. Nguồn gốc số tiền trên là tiền của vợ chồng Duẩn buôn bán gỗ, tích góp mà có và tiền của em gái Duẩn là Vi Thúy Duyệt, sinh năm 1993, hiện đang lao động bên Hàn Quốc đã gửi về cho Duẩn mục đích là chung vốn với vợ chồng Duẩn để Duẩn mở cây xăng, dầu. Sau đó Duẩn thay đổi lời khai, Duẩn khai đó là tiền của chị gái là Vi Thị Diệp gửi nhà Duẩn. Tiến hành lấy lời khai bà Phạm Thị Nom (mẹ Duẩn), Lữ Thị Nghi (vợ Duẩn) và Vi Thị Diệp đều khai nhận: số tiền trên là tài sản của Vi Thị Diệp (do gia đình Diệp lao động tích góp trong nhiều năm), gửi tại nhà Duẩn. Việc Duẩn mua bán ma túy như thế nào Diệp hoàn toàn không biết và không liên quan.
+ Đối với đồ vật, tài sản thu giữ của Đỗ Viết Côi:
- Số tiền: 167.000.000đ (Một trăm sáu mươi bảy triệu đồng) do Lê Thị Hồng, sinh năm 1991 trú tại bản Luốc Làu, xã Mường Mìn, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vợ Côi) giao nộp. Quá trình điều tra Côi khai nhận vào tối ngày 20/8/2022, tại Km39 Việt đã đưa, thanh toán tiền mua 02 bánh Heroine còn thiếu cho Côi là 170.000.000đ (Một trăm bảy mươi triệu đồng), tại Km39, theo sự chỉ đạo của Duẩn. Khi đưa tiền cho Côi thì Việt đã xin lại 3.000.000đ (Ba triệu đồng) để đổ xăng và chi phí trên đường đi về, Côi đồng ý cho lại Việt 3.000.000 đồng. Số tiền còn lại Côi mang về nhà cất giấu, nhưng không cho ai trong gia đình biết. Sau khi Côi bị bắt, Hồng dọn nhà đã phát hiện số tiền trên, nghi là tiền mua bán ma túy của Côi nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.
- 04 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu xanh; 01 điện thoại OPPO màu vàng; 01 điện thoại IPHONE màu xanh, 01 điện thoại IPHONE màu xám. Trong đó 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, Côi khai dùng để liên lạc mua bán ma túy.
+ Đối với đồ vật, tài sản thu giữ của Hoàng Thị Bích:
- Đối với 03 điện thoại di động thu giữ của Hoàng Thị Bích, quá trình điều tra xác định Bích đã dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone màu vàng, gắn sim số 0793115116 để liên hệ với Việt mua bán trái phép chất ma túy; 02 (hai) chiếc điện thoại, Nokia gắn sim 0971.368.263 và Nokia màu đen còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội của Bích.
- Đối với 04 (bốn) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hoàng Thị Bích; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, mang tên Lê Thành Long và Nguyễn Thị Mậu; 01 (một) hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 150/2022/HĐCN. Bích khai nhận đó đều là trích lục đất của Bích đã gửi bà Lê Thị Chiến (mẹ đẻ của Việt) cất giữ tại nhà Việt.
Do đó toàn bộ số ma túy, bao bì còn lại sau giám định và đồ vật, tài sản nêu trên, được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản Cáo trạng số 108/CT-VKS-P1 ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Hoàng Thị Bích, Lê Hữu Việt, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 251 BLHS. Vi Văn Duẩn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 251 BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 249 BLHS. Đỗ Viết Côi về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h, khoản 4, Điều 251 BLHS.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
1. Tuyên bố: Hoàng Thị Bích, Đỗ Viết Côi phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm b, khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Hoàng Thị Bích: Tử hình.
- Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)
2.1 Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Đỗ Viết Côi: Tử hình
- Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
2.2 Áp dụng khoản 4 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi để đảm bảo Thị hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Vi Văn Duẩn, Lê Hữu Việt; quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo, quyền gửi đơn xin ân giảm theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/5/2024, bị cáo Hoàng Thị Bích có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt. Cùng ngày, bị cáo Đỗ Viết Côi có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại tội danh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Hoàng Thị Bích giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng bị cáo cho rằng khi Cơ quan điều tra mời bị cáo lên làm việc bị cáo đã chấp hành; khi khám xét nhà của bị cáo không thu giữ được gì, không có chứng cứ về việc bị cáo mua bán ma túy. Nay bị cáo thừa nhận đã cho vợ chồng bị cáo Lê Hữu Việt vay tiền, bị cáo đưa tiền cho chị Nguyễn Thị Thủy (là vợ của Lê Hữu Việt) và thừa nhận có biết Lê Hữu Việt vay tiền để đi mua ma túy chứ không phải đi mua ma túy về bán cho bị cáo. Do vậy, tại bản án sơ thẩm xác định bị cáo là chủ mưa là không đúng, bị cáo chỉ giúp sức cho bị cáo Việt. Hành vi của bị cáo vi phạm đến đâu bị cáo xin nhận đến đó. Mong được Hội đồng xét xử xem xét lại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị cáo Đỗ Viết Côi xác định chỉ mua bán trái phép 02 bánh Heroin với bị cáo Lê Hữu Việt, còn 02 bánh thu giữ được khi khám nhà của bị cáo là bị cáo đã có từ trước, vì trước đó Việt có hỏi bị cáo để mua ma túy nhưng bị cáo đã nói là không có, sau đó khi bị cáo Duẩn nói có ma túy nên bị cáo mới lấy ma túy của Duẩn và giao cho Việt. Vì vậy, đối với 02 bánh ma túy trước đó là bị cáo chỉ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chứ không có mục đích để mua bán. Bản án sơ thẩm quy két đối với bị cáo mua bán cả 04 bánh Heroin là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại và giảm hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao nêu quan điểm: Kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi đều trong thời hạn luật định nên cần được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa, cả hai bị cáo đều thừa nhận hành vi đã bị quy kết tại bản án sơ thẩm. Các quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cấp sơ thẩm đều đúng quy định.
Đối với bị cáo Hoàng Thị Bích: Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội; tại đơn kháng cáo bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình; tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thừa nhận hành vi cho bị cáo Lê Hữu Việt vay tiền nhằm mục đích để Việt mua được ma túy nên hành vi phạm tội đã bị quy kết tại bản án sơ thẩm và đã được áp dụng điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nên đề nghị áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Đối với bị cáo Đỗ Viết Côi: Bị cáo trực tiếp mua bán 696gam Heroin và nhận số tiền 197 triệu đồng theo chỉ đạo của bị cáo Vi Văn Duẩn; khi khám nhà bị cáo thu giữ thêm 679gam Heroin nữa. Như vậy, tại bản án sơ thẩm đã buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm về tổng số ma túy là 1.067 gam Heroin là đúng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi theo các tội danh, điểm, khoản, điều luật của Bộ luật Hình sự nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân, tính chất của hành vi phạm tội, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi mức án tử hình là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Đỗ Viết Côi không xuất trình thêm tài liệu mới; người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Bích xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đang điều trị bệnh theo Thông báo số 49/TBSK-PC11 ngày 21/6/2024 của Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa và Giấy chứng nhận Liệt sỹ Đỗ Viết Biểu (theo lời khai của bị cáo là chú bên chồng của bị cáo) và các Giấy khen, bằng khen trong thời gian bị cáo đang công tác tại địa phương. Tuy nhiên, các tài liệu này không làm thay đổi bản chất của vụ án. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các luật sư bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm và tranh tụng, cụ thể:
Luật sư Lê Thị Hoa bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Bích nêu quan điểm: Trong kháng cáo đề ngày 02/5/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thừa nhận bản án sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội nhưng bị cáo chỉ phạm tội với vai trò giúp sức, không phải là người chủ mưu. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đã đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là đúng vì bị cáo đã có thay đổi nhận thức và mong muốn sửa chữa lỗi lầm. Trước khi phạm tội, bị cáo Hoàng Thị Bích được Ban Chấp hành Trung ương Hội Cựu thanh niên xung phong tặng Bằng khen, giấy khen; bị cáo thờ cúng Liệt sỹ Đỗ Viết Biểu (là chú bên chồng của bị cáo); đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo xuống mức án tù chung thân.
Luật sư Lưu Hồng Chuyên bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Bích nêu quan điểm: Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tại bản án sơ thẩm của Tòa án huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 2011 đã áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo vì bị cáo có công giúp cơ quan điều tra tố giác tội phạm, bị cáo có công nên đề nghị tiếp tục áp dụng thêm cho bị cáo; ngoài ra bị cáo được tặng thưởng bằng khen vì có thành tích trong thời gian công tác tại địa phương nên đề nghị cho bị cáo được hưởng hình phạt tù có thời hạn cũng đủ giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo Hoàng Thị Bích nhất trí với quan điểm của các Luật sư và trình bày bổ sung: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt, cho bị cáo một con đường sống vì bị cáo cũng đã nhiều tuổi, mong được trả án cho Nhà nước đề còn có cơ hội còn nhìn thấy con cháu. Bị cáo mong được hưởng mức án tù chung thân.
Luật sư Nguyễn Thị Học bào chữa cho bị cáo Đỗ Viết Côi nêu quan điểm: Bị cáo bị quy kết với trọng lượng ma túy là 1.573 gam các loại. Trong đó bị cáo thừa nhận 02 bánh ma túy bán cho Lê Hữu Việt theo sự chỉ đạo của Vi Văn Duẩn, còn lại 02 bánh có trọng lượng 697gam và 183gam Methamphetamine chỉ là bị cáo tàng trữ để sử dụng, hai bánh này có từ trước khi giao 02 bánh của bị cáo Duẩn cho bị cáo Việt 04 ngày nhưng bị cáo đã không giao ngay 02 bánh heroin này. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định rằng khối lượng ma túy này bị cáo chỉ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo khai báo thành khẩn, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị cáo mất sớm, con nhỏ; đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án tù chung thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi được làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị Bích giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt. Bị cáo Đỗ Viết Côi đề nghị xem xét hành vi phạm tội của bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Bích xuất trình Thông báo số 49/TBSK-PC11 ngày 21/6/2024 của Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa về việc bị cáo Bích đang được theo dõi, điều trị bệnh đái tháo đường và bản phô tô có chứng thực Giấy chứng nhận Liệt Sỹ Đỗ Viết Biểu (theo bị cáo khai là chú bên chồng của bị cáo Bích) nhưng không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Các tài liệu này chỉ mang tính chất tham khảo; các bị cáo không xuất hiện thêm tài liệu, chứng cứ nào mới.
Về nội dung, xét kháng cáo xin giàm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Thị Bích và bị cáo Đổ Viết Côi:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị Bích và bị cáo Đỗ Viết Côi thừa nhận hành vi phạm tội như đã bị quy kết tại bản án sơ thẩm. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo Lê Hữu Việt và Vi Văn Duẩn trước khi rút kháng cáo cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Thị Bích, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận việc bị cáo có đưa số tiền 440 triệu đồng cho bị cáo Lê Hữu Việt để Việt đi mua ma túy nhưng bị cáo cho rằng số tiền đó là bị cáo cho Việt vay để Việt đi mua ma túy về bán kiếm lời, nhưng không biết Việt sẽ bán ma túy mua về cho ai chứ không phải đi mua về cho bị cáo nên bị cáo không phạm tội với vai trò chủ mưu. Hội đồng xét xử thấy, lời khai thừa nhận việc bị cáo đưa số tiền cho Việt đi mua ma túy như bản án sơ thẩm đã xác định; khi đưa tiền bị cáo Bích biết mục đích của Việt dùng tiền này để đi mua ma túy; phù hợp với lời khai của bị cáo Lê Hữu Việt, phù hợp với lời khai của bị cáo Vi Văn Duẩn, phù hợp với nội dung biên bản khi bắt giữ Việt cùng vật chứng của vụ án là 02 bánh Heroin. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về số lượng ma túy mà bị cáo đã cung cấp tiền cho Việt đi mua đúng như bản án sơ thẩm đã xác định. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho rằng bị cáo chỉ là người giúp sức cho Việt. Tuy nhiên việc bị cáo thay đổi nhận thức từ không thừa nhận hành vi phạm tội tại phiên tòa sơ thẩm sang thừa nhận có hành vi phạm tội nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa, áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết gia đình bị cáo thờ cúng Liệt sỹ Đỗ Viết Biểu thì tài liệu do gia đình bị cáo cung cấp chỉ là bản sao có công chứng, không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; tại phiên tòa đã làm rõ việc thờ cúng Liệt sỹ được gia đình chồng của bị cáo thờ cúng trong nhà thờ họ, chồng bị cáo đã chết và việc thờ cúng Liệt sỹ không phải do bị cáo hoặc con của bị cáo thực hiện. Do đó không có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo. Tuy áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xét xử cùng về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; khối lượng ma túy bị cáo phạm tội lần này là lớn nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt của bị cáo.
Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đỗ Viết Côi: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục thừa nhận tham gia cùng với Vi Văn Duẩn mua bán ma túy cho Lê Hữu Việt; do đó Côi phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với Vi Văn Duẩn về khối lượng 696,77gam Heroine đã bán cho Lê Hữu Việt.
Đối với 697,68gam Heroine và 183,08gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ khi khám xét nhà Đỗ Viết Côi: Quá trình điều tra ban đầu Côi khai nhận số ma túy trên là của Vi Văn Duẩn đưa cho Côi vào ngày 18/8/2022 cất giấu mục đích để khi có khách của Duẩn hỏi thì bán kiếm lời; sau đó trong quá trình điều tra truy tố, bị cáo Côi thay đổi lời khai là Côi mua của một người đàn ông dân tộc Mông tên là Súa (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) mục đích cất giấu để sử dụng; tại phiên tòa sơ thẩm, Côi khai nhận số ma túy trên là của bị cáo Duẩn giao cho bị cáo cất giữ vào ngày 18/8/2022 và không rõ mục đích của Duẩn giao ma tuý cho bị cáo để làm gì. Do đó, tại bản án sơ thẩm đã quy kết và buộc Đỗ Viết Côi phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập với toàn bộ 697,68 gam Heroine và 183,08 gam ma túy loại Methamphetamine thu giữ khi khám xét nhà Côi. Tổng khối lượng ma túy mà Đỗ Viết Côi phải chịu trách nhiệm hình sự là 1.577,53 gam (gồm 1.394,45 gam Heroine và 183,08 gam Methamphetamine) theo điểm h, khoản 4, Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Do đó không có căn cứ chấp nhận ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Viết Côi về hành vi tàng trữ 697,68 gam Heroin và 183,08 gam Methamphetamine là hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đỗ Viết Côi có nhân thân xấu: Năm 2013, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 17 tháng 24 ngày về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị cáo mua bán ma túy với khối lượng ma túy lớn. Nay không có tình tiết gì mới nên cũng không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đỗ Viết Côi; cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi; giữ nguyên các quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2024/HS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Cụ thể:
Tuyên bố: Hoàng Thị Bích, Đỗ Viết Côi phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b, khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Hoàng Thị Bích: Tử hình.
Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)
- Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 40 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Đỗ Viết Côi: Tử hình.
Phạt bổ sung: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- Áp dụng khoản 4 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi để đảm bảo thi hành án.
Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi có quyền gửi đơn lên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xin ân giảm án tử hình./.
2. Về án phí: Các bị cáo Hoàng Thị Bích và Đỗ Viết Côi, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Tiến
Đặng Đình Lực
Nguyễn Vũ Đông
| Nơi nhận: - Vụ 1 - TANDTC; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan THAHS tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Các bị cáo (qua TTG- 04 bản); - Lưu HSVA; P.HCTP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Đông |