vanban.org

Bản án 72/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thượng Cẩm V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Thượng Cẩm V được ly hôn với ông Phan Văn T. 2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung tên Phan Kim N, sinh ngày 06/02/2011 cho bà Thượng Cẩm V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thượng Cẩm V - Phan Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thượng Cẩm V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05/6/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN – TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thành Luân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Kim Đồng

Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trà Ôn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trung Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2025/TLST – HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thượng Cẩm V, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Chổ ở hiện nay: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Thượng Cẩm V trình bày và yêu cầu:

- Về quan hệ hôn nhân: Ngày 16/11/2002, bà V kết hôn với ông Phan Văn T và chung sống đến năm 2020 thì phát sinh nhiều bất đồng về quan điểm trong cuộc sống và nuôi con. Bà V đã nhiều lần khuyên giải để bảo vệ hạnh phúc gia đình nhưng ông T không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân cách nay hơn 01 năm.

Do đời sống chung không hoà hợp nên bà V khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Phan Nhựt H, sinh ngày 20/11/2005 và Phan Kim N, sinh ngày 06/02/2011.

Khi ly hôn, bà V yêu cầu được nuôi con chung Phan Kim N, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; đối với con chung Phan Nhựt H đã trưởng thành, không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

*Bị đơn ông Phan Văn T đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông T không đến dự và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gởi Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thượng Cẩm V. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà V được ly hôn với ông T; về con chung: Giao con chung Phan Kim N cho bà V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; về án phí: bà V phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Bà Thượng Cẩm V khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con với ông Phan Văn T; bị đơn ông T cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Do đó, vụ án có quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Thượng Cẩm V có đơn xin vắng mặt; bị đơn ông Phan Văn T được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt các đương sự này.

Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Thượng Cẩm V, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Thượng Cẩm V và ông Phan Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T tỉnh Vĩnh Long vào ngày 15/3/2004 nên hôn nhân giữa bà V và ông T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Bà V cho rằng đời sống vợ chồng không hoà thuận, mối quan hệ hôn nhân rạn nứt và vợ chồng đã sống ly thân nên khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông T; bị đơn ông T được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông Tấn L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà V khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà V và ông T có 02 con chung tên Phan Nhựt H, sinh ngày 20/11/2005 và Phan Kim N, sinh ngày 06/02/2011.

Xét, tại bản ý kiến ngày 28/3/2025 của Phan Kim N thì N có nguyện vọng được sống cùng với bà V. Do đó, bà V yêu cầu được nuôi con chung tên Phan Kim N, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ nên được chấp nhận.

Đối với con chung, Phan Nhựt H sinh ngày 20/11/2005 đã trưởng thành và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà V phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thượng Cẩm V.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Thượng Cẩm V được ly hôn với ông Phan Văn T.

1.2. Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung tên Phan Kim N, sinh ngày 06/02/2011 cho bà Thượng Cẩm V tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Đối với con chung, Phan Nhựt H sinh ngày 20/11/2005 đã trưởng thành và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thượng Cẩm V phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0011959 ngày 19/02/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn. Bà Thượng Cẩm V đã nộp đủ.

3. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Án xử công khai sơ thẩm, Tòa án báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi cư trú theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Cỡ chữ