- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định cha mẹ cho con Thanh- Tuấn"
- Tòa quyết gì? 1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Th.
- Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 72/2025/HNGĐ - ST Ngày 19 - 12 - 2025 V/v: Xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà nguyễn Thị Vĩnh và ông Lê Đình Cự.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thuận Yến - Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 146/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXX-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hà Thị Th, sinh năm 1983
HKTT: Xóm Ng, xã Kh C, tỉnh Phú Thọ
Địa chỉ: Thôn T H, xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên.
Bị đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1991
Địa chỉ: Thôn T H, xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Phùng Văn B, sinh năm 1986
Địa chỉ: Xóm K V, xã Khả Cửu, tỉnh Phú Thọ
(Có mặt anh T, chị Th, vắng mặt anh B có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/10/2025 và trong quá trình tố tụng chị Hà Thị Th trình bày: Năm 2006 Chị Th kết hôn với anh Phùng Văn B, quá trình Chị Th chung sống với anh B do anh B hay uống rượu thường xuyên đánh đập chị, cuộc sống chung giữa Chị Th và anh B không có hạnh phúc. Năm 2015 chị bỏ nhà đi làm ăn tự do ở Hà Nội, từ đó chị và anh B sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Năm 2017, chị gặp anh Ngô Văn T, tại Hà Nội chị và anh T phát sinh tình cảm sau đó chị mang thai với anh Ngô Văn T. Đến 14 giờ 50 phút ngày 21/6/2019 chị sinh 01 bé trai tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và được Bệnh viện đa khoa Đông Hưng cấp giấy chứng sinh số 72 quyền số 05 ngày 24/6/2019, chị dự kiến đặt tên cho con là Ngô Tuấn A.
Tháng 7/2025, chị xin ly hôn anh Phùng Văn B tại Tòa án nhân dân khu vực 7- tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên lúc đó chị không trình bày với Tòa án khu vực 7 – Phú Thọ việc trong thời kỳ hôn nhân với anh B chị còn sinh một con riêng là cháu Ngô Tuấn A. Tại Quyết định số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 7- tỉnh Phú Thọ đã: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị và anh Phùng Văn B và chỉ xác định chị và anh B có hai con chung là cháu Phùng Sinh Đoàn, sinh ngày 12/05/2007 và Phùng Sinh Kết, sinh ngày 02/08/2009.
Sau khi ly hôn với anh B, tháng 9/2025 chị kết hôn với anh Ngô Văn T và đi làm khai sinh cho con Ngô Tuấn A (tên dự kiến chị và anh T dự định đặt cho con). Tuy nhiên khi chị đến UBND xã Đông Tiên Hưng để làm thủ tục khai sinh cho cháu Ngô Tuấn A thì không thể thực hiện được. Nay cháu Ngô Tuấn A đã đến tuổi đi học, nhưng vẫn không có giấy khai sinh, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Ngô Tuấn A chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7- Hưng Yên xác định anh Ngô Văn T là cha đẻ của cháu Ngô Tuấn A, giới tính: nam - con do chị sinh tại bệnh viện Đa khoa Đông Hưng vào ngày 21/6/2019.
Tại bản tự khai ngày 17/10/2025 anh Ngô Văn T trình bày:
Anh hoàn toàn nhất trí với ý kiến Chị Th trình bày, anh xác định cháu Ngô Tuấn A - con do Chị Th sinh vào 14 giờ 50 phút ngày 21/6/2019 tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình và được Bệnh viện đa khoa Đông Hưng cấp giấy chứng sinh số 72 quyền số 05 là con do Chị Th mang thai trong thời kỳ hôn nhân với anh B, nhưng là con đẻ của anh và Chị Th.
Nay Chị Th làm đơn đề nghị xác định cháu Ngô Tuấn A (tên dự kiến) là con của anh T. Anh T cũng đã yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định ADN của cháu Ngô Tuấn A và ADN của anh T. Anh T cũng biết cháu Tuấn Anh thực tế là con anh T. Do vậy anh T cũng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật đối với yêu cầu của Chị Th để đảm bảo quyền lợi cho cháu Ngô Tuấn A, để cháu có giấy khai sinh đi học như những đứa trẻ khác.
Tại các văn bản trình bày trong quá trình tố tụng anh Phùng Văn B trình bày: Anh B kết hôn với Chị Th vào năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Khả Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ (nay là xã Khả Cửu, tỉnh Phú Thọ). Do mâu thuẫn nên anh B Chị Th sống ly thân từ năm 2015. Ngày 21/6/2019 Chị Th sinh 01 con riêng tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, anh B không biết việc này, khi ly hôn với anh vào tháng 8/2025 Chị Th không khai với Tòa án về đứa con này. Anh xác định anh và Chị Th chỉ có 2 con chung là cháu Phùng Sinh Đoàn, sinh ngày 12/05/2007 và Phùng Sinh Kết, sinh ngày 02/08/2009. Nay Chị Th yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên xác định anh T là cha đẻ của cháu Tuấn Anh, anh B không liên quan gì đến việc này. Anh đề nghị Tòa án áp dụng quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho các bên đương sự. Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hưng Yên triệu tập anh về tham gia giải quyết việc Chị Th yêu cầu xác định cha cho con, anh B không thể về được nên anh B xin được vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa.
Tại Kết luận giám định ADN số 05.25/GĐ- ADN ngày 23/10/2025 của Viện công nghệ ADN và phân tích di truyền (theo quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ ngày 17/10/2025 của Tòa án nhân khu vực 7 - tỉnh Hưng Yên) kết luận: “Anh Ngô Văn T có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Ngô Tuấn A (tên dự kiến), độ tin cậy > 99,9999%”,
Tại phiên tòa:
- Chị Hà Thị Th và anh Ngô Văn T giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình tố tụng không bổ sung gì. Anh Phùng Văn B vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi nghị án đúng quy định của pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã tuân thủ quy định của pháp luật; Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 88, Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: đề nghị xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Th. Xác định anh Ngô Văn T là cha đẻ của bé trai (tên dự kiến Ngô Tuấn A) do chị Hà Thị Th sinh vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 21/6/2019 tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng theo Giấy chứng sinh số 72 quyển số 05 ngày 24/6/2019 của Bệnh viện đa khoa Đông Hưng. Ngoài ra còn đề nghị về án phí và chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Th có đơn yêu cầu giải quyết việc xác định cha cho con. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên theo quy định tại khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Anh B có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hưng Yên vẫn tiến hành xét xử vắng mặt Bính.
Về nội dung: Anh T, Chị Th có quan hệ tình cảm vào năm 2019, khi Chị Th vẫn còn là vợ anh Phùng Văn B, giai đoạn Chị Th, anh B sống ly thân. Chị Th đã mang thai và ngày 21/6/2019 chị sinh một bé trai tại Bệnh viện Đa khoa Đông Hưng, được cấp giấy chứng sinh số 72 quyển số 05 ngày 24/6/2019 của Bệnh viện Đa khoa Đông Hưng.
Anh T, Chị Th đều xác định, bé trai do Chị Th sinh ngày 21/6/2019 (dự kiến đặt tên là Ngô Tuấn A) là con chung của Chị Th, anh T. Tháng 8/2025 Chị Th và anh B giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ, Chị Th và anh B đều không trình bày việc Chị Th đã sinh một con riêng trong thời kỳ hôn nhân với anh B. Ngày 19/8/2025 Tòa án nhân dân khu vực 7- tỉnh Phú Thọ đã ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 09/2025/QĐST-HNGĐ giữa Chị Th và anh B. Sau khi ly hôn anh B, Chị Th kết hôn với anh T và đưa cháu Tuấn Anh về chung sống cùng anh Ngô Văn T tại thôn Tân Hòa, xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên tuy nhiên Chị Th, anh T không thể làm được giấy khai sinh cho cháu Tuấn Anh.
Tòa án nhân dân khu vực 7 – tỉnh Hưng Yên đã trưng cầu giám định ADN của anh Ngô Văn T và cháu Ngô Tuấn A (tên dự kiến) giới tính: Nam – là con do Chị Th sinh vào ngày 21/6/2025 theo giấy chứng sinh số 72 quyển số 05 ngày 24/6/2019 của Bệnh viện Đa khoa Đông Hưng tại Viện công nghệ ADN và Phân tích di truyền, theo quyết định trưng cầu giám định số 01/2025/QĐ-TCGĐ ngày 17/10/2025 của Tòa án nhân khu vực 7 - Hưng Yên.
Tại Bản kết luận giám định ADN số 05.25/GĐ- ADN ngày 23/10/2025 của Viện công nghệ ADN và Phân tích di truyền kết luận “Anh Ngô Văn T có quan hệ huyết thống bố - con với cháu Ngô Tuấn A (tên dự kiến), độ tin cậy 99,9999%”
Do vậy: Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận anh Ngô Văn T là cha đẻ của cháu Ngô Tuấn A (tên dự kiến) – giới tính: nam, con do Chị Th đã sinh vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 21/6/2019 tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, theo giấy chứng sinh số 72 quyền số 05 ngày 24/6/2019 của Bệnh viện đa khoa Đông Hưng.
Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí: Các đương sự không phải chịu án phí.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng và giám định hết 8.000.000 đồng. Anh T nhận chịu toàn bộ thay Chị Th cần chấp nhận tự nguyện của anh T. Anh T đã nộp đủ.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 4 Điều 28, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân gia đình. Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1/Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hà Thị Th.
Xác định: Anh Ngô Văn T là cha đẻ của bé trai (tên dự kiến Ngô Tuấn A) do chị Hà Thị Th sinh vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 21/6/2019 tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng theo Giấy chứng sinh số 72 quyển số 05 ngày 24/6/2019 của Bệnh viện đa khoa Đông Hưng.
2/ Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí: Anh Ngô Anh T, chị Hà Thị Th không phải chịu án phí.
- Về chi phí tố tụng: Anh Ngô Anh T chịu 8.000.000 đồng (tám triệu đồng) tiền giám định ADN (anh T đã nộp đủ) .
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, với người có mặt tính từ ngày tuyên án ngày 19/12/2025, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND khu vực 7 – Hưng Yên; - TAND tỉnh Hưng Yên - VKSND tỉnh Hưng Yên - UBND xã Đông Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên - Lưu . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Hà Thị Nhung |