vanban.org

Bản án 72/2025/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 23/04/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/04/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thu Ph, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.

Đ b khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Ng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn Phan Văn Ng, bị đơn Trần Thị Thu Ph"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thu Ph, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 12 Nghị quyết số Số: 02/2022/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số q…; Điều 13 Luật giao thông đường bộ
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2025/DS-PT
Ngày: 23-4-2025
V/v: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thư

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Văn Bình

Bà Nguyễn Thị Nga

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Tân – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 242/2024/TLPT-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2025/QĐXXPT-DS ngày 14 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Văn Ng; sinh năm: 1962; địa chỉ: Đội 2, ấp 1, xã ĐT, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Có mặt.

Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn:

1. Ông Chu Văn Ch; sinh năm: 1989. Vắng mặt.

2. Ông Hà Văn H1; sinh năm: 1992. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Số 41 TL, phường BTĐ, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Thu Ph; sinh năm: 1974; địa chỉ: Thôn 3, xã NC, huyện ĐL, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

Người đại diện ủy quyền của bị đơn: Ông Võ Hồng H2; sinh năm: 2000; địa chỉ: TL, EA, thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn T; sinh năm: 1991; địa chỉ: Công ty luật TNHH SG, số 200, đường QT, tổ 2, phường NT, thành phố GN, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974; địa chỉ: Đội 2, ấp 1, xã ĐT, huyện ĐP, tỉnh Bình Phước. Có mặt.

Người đại diện ủy quyền của bà Đ: Ông Chu Văn Ch; sinh năm: 1989; địa chỉ: Số 41 TL, phường BTĐ, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phan Văn Ng (đại diện là ông Chu Văn Ch) trình bày:

Vào ngày 12/11/2023, vào khoảng 22 giờ 20 phút, ông Phan Văn Ng cùng vợ là bà Đoàn Thị Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát số 93A-00341 xe mang tên ông Phan Văn Ng (xe do bà Đ điều khiển) lưu thông trên đường Quốc lộ 14, thuộc khu phố ĐT, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước hướng về thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước thì đụng vào phía sau xe ô tô tải BS 48H-01382 do bà Trần Thị Thu Ph là chủ sở hữu; việc va chạm làm xe của ông Ng hư hỏng nặng, không có thiệt hại về người. Trước khi tai nạn xảy ra ông Ng đang ngủ trên xe, bà Đ điều khiển trực tiếp, đến khi xảy ra va chạm thì ông Ng tỉnh dậy và thấy xe của ông Ng tông vào sau hông bên trái của xe tải.

Xe ông Ng va vào xe tải bị hư hỏng nặng cánh cửa bên phải, móp phần đầu xe bên phải và không nổ máy di chuyển được. Xe tải chỉ bị móp nhẹ càng bên hông bánh xe sau bên trái, xe vẫn di chuyển bình thường.

Lỗi trực tiếp là do xe ô tô tải BS 48H-01382, khi di chuyển từ Gara xe ra đường Quốc lộ 14 không quan sát và không bật xi nhan xin đường, khi làm việc với tài xế xe ô tô tải thì tài xế (không rõ họ tên) thừa nhận là do chạy xe 02 đêm liên tục và mệt, buồn ngủ nên thiếu quan sát và xin ông Ng không báo công an mà để thương lượng bồi thường thiệt hại.

Khoảng 02 giờ sau bà Trần Thị Thu Ph mới có mặt tại hiện trường và thoả thuận với gia đình ông Ng là không báo công an mà để bà Ph đưa xe ô tô của ông Ng về hãng TOYOTA ở ĐX, Bình Phước sửa lại toàn bộ phần hư hỏng, mọi chi phí bà Ph phải chịu; bà Ph có làm một biên bản thoả thuận có chữ ký của bà Ph, chữ viết là do con trai bà Ph viết, cam kết xin chịu lại toàn bộ chi phí sửa chữa. Do đó ông Ng mới cho bà Ph đưa xe ra khỏi hiện trường và bà Ph đã thuê xe cứu hộ đưa xe của ông Ng về hãng TOYOTA tại thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước đề sửa chữa.

Sau khi hãng TOYOTA báo giá chi phí sửa chữa hư hỏng thì bà Ph không thực hiện theo thỏa thuận và cắt liên lạc với gia đình ông Ng.

Căn cứ theo quyết toán S27110231113028 ngày 13/11/2023 của Công ty TOYOTA Bình Phước thì tổng chi phí sửa chữa là 196.216.680 đồng. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, bà Ph đã thừa nhận va chạm xảy ra là do lỗi của bà Ph và cam kết sẽ bồi thường cho ông Ng toàn bộ chi phí sửa chữa xe. Tuy nhiên đến nay bà Ph vẫn không thực hiện theo thoả thuận. Trước đây, ông Ng yêu cầu bà Ph phải bồi thường tổng chi phí sửa chữa xe là 196.216.680 đồng. Tuy nhiên tại phiên tòa, ông Ng xin rút yêu cầu bồi thường chi phí đối với trần nỉ xe có giá 17.030.520 đồng và đề can có giá 296.000 đồng. Số tiền ông Ng yêu cầu bà Ph phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe ô tô nói trên với số tiền là 178.890.160 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

*Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Thu Ph trình bày:

Vào ngày 12/11/2023, vào khoảng 22 giờ 20 phút tài xế của bà Ph là Tăng Phúc Lê DL là người trực tiếp lái xe, cùng lơ xe tên Th (không rõ họ tên, nơi ở) điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 48H – 01382 do bà Ph làm chủ sở hữu đi từ Gara ô tô ra đường QL14 thuộc khu phố ĐT, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước hướng về thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước thì xảy ra va chạm với xe ô tô của ông Phan Văn Ng. Sau đó anh Thắng có điện thoại cho bà Ph báo sự việc; Khoảng 01 tiếng sau bà Ph mới xuống hiện trường thì thấy xe tải đứng song song đường đầu hướng về ĐX, xe của ông Ng dính phía hông trái (đuôi xe) xe tải, phần đầu xe phía bên phải của ông Ng bị móp không di chuyển được.

Do lúc đó tâm lý còn hoang mang, chưa xác định lỗi do bên bà Ph hay bên ông Ng mà chỉ căn cứ vào lời nói của ông Ng, nói xe của bà Ph vi phạm lỗi nên hai bên thương lượng là không báo công an mà để tự giải quyết nên bà Ph có nhờ con trai (Nguyễn Văn Gi) viết giấy thoả thuận, chữ viết họ tên và chữ ký là của bà Ph với nội dung “bà Trần Thị Thu Ph sẽ mang xe của ông Ng tới hãng Toyota Bình Phước sửa chữa thay thế phụ tùng, khôi phục nguyên tình trạng theo giấy đăng kiểm của xe, mọi chi phí di chuyển và sửa chữa do bà Ph chi trả” để giải quyết phương tiện đi lại không ách tắc. Sau khi thoả thuận xong thì bà Ph thuê xe cứu hộ đưa xe ô tô của ông Ng về công ty TNHH MTV TOYOTA Bình Phước (chi phí thuê xe cứu hộ bà Ph đã thanh toán 1.700.000 đồng).

Khoảng mấy ngày sau ông Ng báo giá cho bà Ph chi phí sửa chữa xe gần 200.000.000 đồng, bảng báo giá sửa chữa bà Ph có xin từ gara ô tô và biết nội dung cần sửa chữa. Tuy nhiên do giá cao quá nên bà Ph không đồng ý. Bà Ph khẳng định lại lỗi gây tai nạn là do xe ô tô của ông Ng.

Tại phiên tòa bà Ph xác định tài xế Tăng Phúc Lê DL chỉ là người làm công theo chuyến cho bà Ph nên mọi chi phí nếu xảy ra tai nạn, rủi ro liên quan điều khiển xe, bà Ph (chủ xe) là người chịu hoàn toàn, chứ không yêu cầu tài xế phải chịu. Trong vụ án này, nếu phải bồi thường thì bà Ph là người chịu hoàn toàn, tài xế L hiện không còn làm cho bà Ph nữa.

Nay trước yêu cầu của ông Ng yêu cầu bà Ph phải bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa xe do tại nạn gây ra là 178.890.160 đồng thì bà Ph không đồng ý. Bà Ph chỉ đồng ý hỗ trợ ông Ng số tiền là 20.000.000 đồng.

Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ trình bày:

Bà Đ là vợ của ông Phan Văn Ng, còn bà Ph là chủ xe tải. Vào ngày 12/11/2023, vào khoảng 22 giờ 20 phút bà Đ có điều khiển xe ô tô biển kiểm soát BS 93A-00341 (giấy tờ xe mang tên ông Phan Văn Ng) lưu thông trên đường QL 14, thuộc khu phố ĐT, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước về ĐX thì bị xe ô tô BS 48H-01382 do bà Trần Thị Thu Ph là chủ sở hữu đi từ Gara ô tô …. đi ra đường QL14 hướng về phía ĐX, Bình Phước, không bật đèn xi nhan xin đường, nhập làn không đảm bảo an toàn giao thông nên đã gây ra va chạm với xe của bà Đ làm xe của bà Đ, ông Ng hư hỏng nặng.

Xe của bà Đ lúc đó đang đi theo hướng từ BĐ về ĐX, còn xe ô tô tải BS 48H-01382 của bà Ph từ trong gara ô tô đi ra đường Quốc lộ 14 theo hướng từ BĐ về ĐX, lúc đó khoảng cách giữa xe bà Đ và xe ô tô tải rất gần, xe ô tô tải di chuyển đột ngột ra đường Quốc lộ 14 không có xi nhan xin đường, lúc này bà Đ đã thắng xe nhưng không kịp và nếu bẻ tay lái sang phía trái thì có xe ô tô ngược chiều đang di chuyển. Do đó bà Đ chỉ thắng nhẹ để giảm thiểu tai nạn, tuy nhiên vẫn tông vào hông xe (bánh sau bên trái của xe ô tô tải).

Sau va chạm xe ô tô BS 93A-00341 của bà Đ bị hư hỏng nặng cánh cửa bên phải, móp phần đầu xe bên phải và xe chết máy không di chuyển được. Xe tải chỉ bị móp nhẹ càng hông bánh xe sau phía bên trái (xe tải vẫn di chuyển bình thường).

Bà Đ xác định lỗi trực tiếp là do xe ô tô tải BS 48H-01382 khi di chuyển ra Quốc lộ 14 không quan sát, không bật xi nhan xin đường, nhập làn không đảm bảo an toàn làm cho xe đi phía sau đang lưu thông không xử lý không kịp; khi làm việc với tài xế xe ô tô tải (không rõ họ tên) thì tài xế thừa nhận là do chạy xe 02 đêm liên tục, mệt, buồn ngủ nên thiếu quan sát và xin bà Đ không báo Công an mà để gọi chủ xe đến thương lượng bồi thường thiệt hại.

Khoảng gần 24 giờ bà Trần Thị Thu Ph (chủ xe tải) mới có mặt tại hiện trường, bà Ph thoả thuận với bà Đ là không báo Công an giải quyết mà để bà Ph đưa xe ô tô của bà Đ về hãng TOYOTA tại ĐX, Bình Phước sửa lại toàn bộ phần hư hỏng, mọi chi phí bà Ph phải chịu. Do đó bà Đ mới cho bà Ph đưa xe ra khỏi hiện trường và thuê xe cứu hộ đưa xe bà Đ về hãng TOYOTA tại ĐX, Bình Phước để sửa (việc thuê xe cứu hộ và trả tiền thuê do bà Ph trả); cùng lúc đó bà Ph có làm một biên bản thoả thuận do con trai bà Ph viết, bà Ph ký tên, cam kết xin chịu lại toàn bộ chi phí sửa chữa và vận chuyển xe đến nơi sửa chữa.

Theo quyết toán S27110231113028 ngày 13/11/2023 của Công ty TOYOTA Bình Phước và hóa đơn giá trị gia tăng do công ty TOYOTA cung cấp thì tổng chi phí sửa chữa là 196.216.680 đồng, gia đình. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, bà Ph đã thừa nhận va chạm xảy ra là do lỗi của bà Ph và cam kết sẽ bồi thường cho bà Đ toàn bộ chi phí sửa chữa xe. Tuy nhiên đến nay bà Ph vẫn không thực hiện theo thoả thuận.

Nay ông Ng khởi kiện yêu cầu bà Ph phải có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe ô tô nói trên với số tiền là 178.890.160 đồng thì bà Đ cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Ng.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án ông Tăng Phúc Lê DL trình bày: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 12/11/2023, xe ô tô tải BS 48H-01382 của bà Ph do tôi lái trực tiếp đi từ trong ga ra đi ra đường Quốc lộ 14 để di chuyển về hướng ĐX, tôi có bật xi nhan phải để lưu thông ra đường Quốc lộ 14, vận tốc di chuyển khoảng 05km/h, tôi không sử dụng chất kích thích như rượu, bia…, khi đi tôi quan sát không thấy xe nào đang lưu thông theo hướng về ĐX. Đoạn đường này dân cư thưa thớt, vận tốc cho phép là 60km/h; khi xe tôi ra hẳn đường Quốc lộ 14 thì có chiếc xe 7 chỗ của ông Phan Văn Ng đâm vào hông trái xe tải của tôi. Lúc xảy ra tai nạn tôi có xuống kiểm tra thấy xe của ông Ng hư hỏng ở phần đầu bên phải của xe và xe tải thì bị cong phần càng bên trái nhưng vẫn di chuyển được. xe của ông Ng khi lưu thông tôi thấy chạy với vận tốc rất nhanh (không rõ là bao nhiêu), lúc đó có một xe tải lớn đang lưu thông ngược chiều. Anh L đã được xem video do nguyên đơn cung cấp và thừa nhận chiếc xe 7 chỗ của ông Ng và xe tải do anh L điều khiển va chạm nhau là đúng; hình ảnh xe 7 chỗ hư hỏng là đúng với thời điểm va chạm. Địa điểm xe tải di chuyển ra đường Quốc lộ 17 là chỗ gara ô tô Vá vỏ 24/24 BƠM MỠ. Sau khi va chạm xảy ra, tôi có gọi cho bà Ph xuông hiện trường xem, khi đó các bên thương lương thế nào thì tôi không biết và không có ý kiến gì về việc yêu cầu bồi thường của ông Ng do không có liên quan đến việc yêu cầu và xin được vắng mặt trong sốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước quyết định:

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Đ d khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 13 Luật giao thông đường bộ năm 2008; các điều 584, 585, 586, 588, 589, 601 Bộ luật dân sự 2015;

Đ b khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Điều 27, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Ng.

Buộc bà Trần Thị Thu Ph phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Phan Văn Ng toàn bộ chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe ô tô BS 93A-00341 do tại nạn gây ra là 178.890.160 đồng (một trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm chín mươi nghìn, một trăm sáu mươi đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 10/9/2024, bị đơn bà Trần Thị Thu Ph đã kháng cáo Bản án số 53/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước với nội dung đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện.

Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện sửa bản án sơ thẩm.

Quan Đ của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử: Kể từ ngày thụ lý vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên không chấp nhận kháng của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Thu Ph làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung phù hợp các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên cần xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Nội dung tranh chấp:

Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 12/11/2023, tài xế của bà Trần Thị Thu Ph là Tăng Phúc Lê DL điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 48H – 01382 do bà Ph làm chủ sở hữu đi từ Gara ô tô ra đường QL14 thuộc khu phố ĐT, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước hướng về thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước thì xảy ra va chạm với xe ô tô của ông Phan Văn Ng. Sau đó anh Luân có điện thoại cho bà Ph báo sự việc; Khoảng 01 tiếng sau bà Ph xuống hiện trường thì thấy xe tải đứng song song đường đầu hướng về ĐX, xe của ông Ng dính phía hông trái (đuôi xe) xe tải, phần đầu xe phía bên phải của ông Ng bị móp không di chuyển được. Phía ông Ng và bà Ph thống nhất hai bên tự thương lượng là không báo công an. Sau đó, bà Ph có nhờ con trai (Nguyễn Văn Gi) viết giấy thoả thuận, chữ viết họ tên và chữ ký là của bà Ph với nội dung “bà Trần Thị Thu Ph sẽ mang xe của ông Ng tới hãng Toyota Bình Phước sửa chữa thay thế phụ tùng, khôi phục nguyên tình trạng theo giấy đăng kiểm của xe, mọi chi phí di chuyển và sửa chữa do bà Ph chi trả”. Tiếp đó, ông Ng mới cho bà Ph đưa xe ra khỏi hiện trường và bà Ph đã thuê xe cứu hộ đưa xe của ông Ng về hãng TOYOTA tại thành phố ĐX, tỉnh Bình Phước đề sửa chữa. Sau khi hãng TOYOTA báo giá chi phí sửa chữa hư hỏng thì bà Ph không thực hiện theo thỏa thuận và cắt liên lạc với gia đình ông Ng. Do đó, ông Ng khởi kiện bà Ph yêu cầu bồi thường toàn bộ chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe ô tô nói trên với số tiền là 178.890.160 đồng.

Xét kháng cáo của bà Trần Thị Thu Ph, Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ vào VIDEO từ camera hành trình của ô tô biển kiểm soát số 93A-00341 và xe ô tô tải BS 48H-01382, thì xe tải BS 48H-01382 (xe tải) do tài xế Tăng Phúc Lê DL điều khiển, khi di chuyển từ gara ô tô ĐN (QL 14, khu ĐT, thị trấn ĐP, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước) ra Quốc lộ 14 đã không tuân thủ theo quy định tại Điều 13 của Luật giao thông đường bộ năm 2008. Theo đó, xe tải đi từ trong gara ra đường không bật xi nhan xin đường, nhập làn không đảm bảo an toàn giao thông, trong điều kiện thời gian là trời tối (hơn 22 giờ đêm), tầm nhìn bị hạn chế, đường có hai làn đường và không có dải phân cách, đang có xe ô tô tải lớn đi ngược chiều dẫn đến xe của ông Ng do bà Đ điều khiển ở phía sau đi đến không xử lý kịp đã đâm vào cản bên trái phía sau xe tải của bà Ph làm cho xe của ông Ng bị hư hỏng nặng phần đầu và cánh của bên phải.

Bà Ph thừa nhận hình ảnh thực tế 2 xe va chạm nhau và hình ảnh xe ô tô của ông Ng bị hư hỏng là đúng và cũng chính bà Ph đã thuê xe cứu hộ đưa xe ô tô của ông Ng về hãng TOYOTA Bình Phước để sửa chữa như đã thỏa thuận.

Căn cứ vào Phiếu quyết toán sửa chữa chung ngày 13/11/2023 và Phiếu quyết toán sửa chữa thân xe và sơn ngày 05/12/2023 và hóa đơn giá trị gia tăng ngày 27/12/2023 của hãng TOYOTA Bình Phước cung cấp thì tổng chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe ô tô BS 93A-00341 là 196.216.680 đồng, ông Ng tự nguyện xin rút một phần yêu cầu bồi thường (gồm chi phí đối với trần nỉ xe có giá 17.030.520 đồng, đề can có giá 296.000 đồng) và chỉ yêu cầu bà Ph bồi thường số tiền là 178.890.160 đồng; qua đối chiếu các hạng mục sửa chữa phù hợp với các hạng mục tại bảng báo giá sửa chữa thay thế phụ tùng xe ôtô do tại nạn gây ra, phù hợp với vị trí hư hỏng thực tế do tai nạn gây ra được các bên thừa nhận nên cần được chấp nhận đây là các hư hỏng thực tế cần phải khắc phục sửa chữa, thay thế để khôi phục tình trạng ban đầu của xe ô tô BS 93A-00341.

Căn cứ biên bản thỏa thuận bồi thường ngày 12/11/2023 bà Ph ký có nội dung “bà Trần Thị Thu Ph sẽ mang xe của ông Ng tới hãng Toyota Bình Phước sửa chữa thay thế phụ tùng, khôi phục nguyên tình trạng theo giấy đăng kiểm của xe, mọi chi phí vận chuyển và sửa chữa do bà Ph chi trả”. Trong quá trình xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, bà Ph và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn khẳng định khi lập biên bản thỏa thuận bà Ph là người hoàn toàn bình thường, việc lập biên bản thỏa thuận là tự nguyện không bị ai ép buộc và việc bồi thường thiệt hại do bà Ph hoàn toàn chịu trách nhiệm, không yêu cầu tài xế xe (người điều khiển Ph tiện gây tai nạn phải chịu vì tài xế Luân chỉ là người bà Ph thuê lái xe theo chuyến, trả tiền công theo chuyến, việc sử dụng xe ô tô là do bà Ph quyết định). Như vậy đây là ý chí tự nguyện của bà Ph trong việc xác định trách bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu tài sản - nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Điều 2, Điều 3, Điều 6 và Điều 12 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, buộc bà Trần Thị Thu Ph phải chi trả toàn bộ chi phí sửa chữa xe ô tô BS 93A-00341 cho ông Ng theo yêu cầu của ông Ng là 178.890.160 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên Bản án dân sự số 53/2024/DSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.

Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Ph không được chấp nhận nên bà phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Thu Ph, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.

Căn cứ khoản 6 Điều 26, Đ d khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Điều 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 13 Luật giao thông đường bộ năm 2008; các điều 584, 585, 586, 588, 589, 601 Bộ luật dân sự 2015;

Đ b khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Điều 27, Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Ng.

Buộc bà Trần Thị Thu Ph phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Phan Văn Ng toàn bộ chi phí sửa chữa, thay thế phụ tùng xe ô tô BS 93A-00341 do tại nạn gây ra là 178.890.160 đồng (một trăm bảy mươi tám triệu, tám trăm chín mươi nghìn, một trăm sáu mươi đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 8.944.508 đồng bà Trần Thị Thu Ph phải chịu. Ông Phan Văn Ng không phải chịu án phí.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị Thu Ph phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010582 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐP, tỉnh Bình Phước.

4. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ