vanban.org

Bản án 72/2024/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 18/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Tuấn T phạm tội Trộm cắp tài sản; Xử phạt: Bị cáo Hoàng Tuấn T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoang Tuan Tien - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HSST
Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

- Các Hội thẩm nhân dân: Ng Thị Như Hoa

hạm Thị Nga

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: ông Đặng Quốc Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Tuấn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Kh ng; Sinh ngày 23/8/1984 tại Hòa Bình; Trú tại: Tổ 13, phường Đồng T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; T n giáo: kh ng; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố là Hoàng Tuấn H (Đã chết), mẹ là Doãn Thị L, sinh năm 1959; Bị cáo chưa c v con; Gia đình c 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: 02 tiền án:

+ Ngày 29/02/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Th, tỉnh hú Thọ xử phạt 54 tháng tù tại Bản án số 05/2016/HS-ST về tội Trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 45.935.500đ, án phí hình sự 200.000đ, án phí dân sự 2.296.700đ. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2019, chưa chấp hành trách nhiệm dân sự – Chưa đư c x a án tích.

+ Ngày 21/6/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù tại Bản án số 58/2022/HSST về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, truy thu số tiền 100.000 thu lời bất chính, án phí hình sự 200.000đ – Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2023 và đã chấp hành xong trách nhiệm dân sự - Chưa đư c x a án tích.

Tiền sự: Kh ng;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/02/2024 tại Nhà tạm giữ C ng an thành phố Hòa Bình, đư c trích xuất, c mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Bùi Quang L, sinh năm 1988; trú tại: khu A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình.(vắng mặt, c đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng: Anh Hoàng Tuấn D, sinh năm 1980; trú tại: tổ 13, phường Đồng T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.(c mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Tuấn T do kh ng c việc làm ổn định, trong ngày 11/12/2023 Hoàng Tuấn T đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là tiền, cụ thể:

Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ ngày 11/12/2023 T cùng anh trai tên là Hoàng Tuấn D đi bộ qua khu vực bờ kè s ng Đà thuộc địa phận tổ 06, phường Tân Thịnh, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Tại đây T nhìn thấy tại khu vực bậc thang lên xuống bờ kè c một ví da nam màu đen, T nhặt lên kiểm tra thấy bên trong c một thẻ ATM của Ngân hàng TMC Đầu tư và hát triển Việt Nam màu xanh, mã số thẻ 9704180000026851147; một căn cước c ng dân số 017088004122 mang tên Bùi Quang L, sinh ngày 17/11/1988, trú tại khu An Thịnh, thị trấn Mãn Đức, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình cùng một số giấy tờ khác, sau đ T và Dũng về nhà, Dũng đi ngủ trước. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền c trong thẻ ATM nên khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày T đi đến cây ATM của ngân hàng BIDV chi nhánh tỉnh Hòa Bình tại tổ 14, phường Hữu Nghị, thành phố H, tại đây T dùng thẻ ATM cho vào cây ATM dò mật khẩu của thẻ. T dò theo thông tin cá nhân là ngày tháng năm sinh ghi trên căn cước c ng dân của anh Bùi Quang L là số 171188 (Ngày 17/11/1988) thì mở đư c thể ATM, T kiểm tra số tiền dư trong thẻ sau đ rút số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Sau đ T đã chi tiêu hết số tiền trộm cắp đư c.

Lần thứ 2: Khoảng 20 giờ 38 phút cùng ngày 11/12/2023 T đi qua khu c ng nghiệp bờ trái s ng Đà thuộc địa phận tổ 12, phường Hữu Nghị, thành phố H, T thấy trước cổng nhà máy GGS c cây ATM của Ngân hàng BIDV nên nảy sinh ý định chiếm đoạt nốt số tiền c trong tài khoản. T vào cây ATM đăng nhập vào tài khoản, kiểm tra số dư và rút thêm đư c số tiền 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng trong tài khoản, số tiền còn lại trong tài khoản T kh ng rút đư c. Sau đ T đã chi tiêu hết số tiền đã rút trộm đư c.

Tổng số tiền hai lần trộm cắp của Hoàng Tuấn T là 4.050.000 (bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.

Khoảng 20 giờ ngày 11/12/2023, sau khi phát hiện bị mất ví và nhận đư c th ng tin qua tin nhắn của ngân hàng gửi đến về việc bị rút hai lần với tổng số tiền 4.050.000 (bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng, anh Lộc nghi ngờ c người nhặt đư c ví sau đ rút trộm tiền trong tài khoản ngân hàng nên đã đến cơ quan Công an trình báo.

Đến sáng ngày 12/12/2023 trong quá trình tham gia mạng xã hội Facebook, T đọc đư c th ng tin tìm giấy tờ của anh Bùi Quang L đăng trên các hội nh m Facebook. T đã liên lạc với anh Lộc, th ng báo T đã nhặt đư c ví và giấy tờ của anh Lộc. Anh Lộc đề nghị xin lại và sẽ cảm ơn T số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng, T đồng ý. Hai bên hẹn gặp nhau tại khu vực đường Nguyễn Văn Trỗi thuộc địa bàn tổ 12, phường Hữu Nghị, thành phố H để trao trả ví cùng giấy tờ và nhận tiền cảm ơn. Đến khoảng 17 giờ 10 phút cùng ngày, T cùng với Hoàng Tuấn D, sinh năm 1980, trú tại tổ 13, phường Đồng T, thành phố H (Là anh trai của T) đi đến chỗ hẹn để gặp anh Lộc. Hai bên đang gặp nhau để trao đổi thì Tổ công tác Công an thành phố H đang đi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đi ngang qua, thấy c dấu hiệu nghi vấn nên đã mời các bên về trụ sở làm việc. T đã khai nhận toàn bộ hành vi rút trộm tiền trong tài khoản ngân hàng của anh Lộc trước đ .

Tại cơ quan điều tra bị cáo Hoàng Tuấn T đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân, phù h p với các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án và tự nguyện trả lại số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng đã nhận từ anh Lộc.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Quá trình làm viêc tại C ng an thành phố H đã thu giữ: 01 (Một) chiếc ví loại gập bằng da màu đen; 01 (Một) thẻ ATM của ngân hàng BIDV phát hành số 9704180000026851147 mang tên BUI QUANG LOC; 01 (Một) thẻ căn cước c ng dân số 017088004122 mang tên Bùi Quang L; 01 (Một) thẻ khách hàng sử dụng điện màu xanh, mã số thẻ A17TXT129445 mang tên Nguyễn Tất L i; 01 (Một) giấy phép lái xe số 170127171188 mang tên Bùi Quang L; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 067820 do hòng Cảnh sát giao th ng C ng an tỉnh Hòa Bình cấp ngày 29/09/2020 mang tên Nguyễn Việt Dũng, BKS 28H1-537.18; 01 (Một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc của chủ xe m t số AA/3032683 cùng với số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng, sau khi phục vụ điều tra đã đư c Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an thành phố Hòa Bình trả lại toàn bộ cho anh Bùi Quang L.

Cáo trạng số 68/CT-VKSTP ngày 10/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Hoàng Tuấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điều 38 BLHS xử phạt: Hoàng Tuấn Tiến mức án từ 24 (hai mươi tư) đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

hần tranh luận: bị cáo kh ng c tranh luận gì.

Lời n i sau cùng: bị cáo xin đư c hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo kh ng c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là h p pháp.

Về hành vi các bị cáo đã thực hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù h p với lời khai tại giai đoạn điều tra; vật chứng thu đư c; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án, do đ c đủ cơ sở xác định: Hoàng Tuấn T là người c đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng điều khiển hành vi. Là đối tư ng c nhân thân xấu, bản thân c 02 tiền án (đều về tội Trộm cắp tài sản), chưa đư c x a án tích. Do coi thường pháp luật, không có ý thức tu dưỡng bản thân, nên trong ngày 11/12/2023 Hoàng Tuấn T l i dụng việc nhặt đư c thẻ ATM và dò đư c mật mã thẻ trong tài khoản ngân hàng của anh Bùi Quang L đã c hành vi lén lút dùng thẻ ATM rút tiền tại cây ATM 2 lần, một lần số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng và một lần số tiền 50.000 (Năm mươi nghìn) đồng trong tài khoản ngân hàng của anh Bùi Quang L. Tổng số tiền mà Hoàng Tuấn T trộm cắp là 4.050.000 (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.

Hành vi của Hoàng Tuấn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường h p “Tái phạm nguy hiểm”, bị cáo phạm tội khi chưa đư c x a án tích của 02 bản án trước, đây là tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền tài sản của người khác, là quan hệ đư c pháp luật Hình sự bảo vệ. Bị cáo Hoàng Tuấn T là người c đầy đủ năng lực pháp luật, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức đư c hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Tuấn T đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại”, “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”,“ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và “Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lư ng hình.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Hoàng Tuấn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng vụ án:

Toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên do sau khi phục vụ điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an thành phố Hòa Bình đã trả lại cho anh Bùi Quang L theo quy định pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh trai bị cáo là Hoàng Tuấn D đã thay mặt bị cáo đã bồi thường cho anh Lộc số tiền 4.050.000 (bốn triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng. Anh Dũng cũng xác nhận số tiền này là tiền của bị cáo Tiến gửi mẹ của bị cáo giữ hộ, anh chỉ là người cầm tiền để đứng ra bồi thường giúp bị cáo. Bị hại kh ng yêu cầu bồi thường gì thêm và kh ng yêu cầu xem xét giải quyết. Trách nhiệm dân sự các đương sự xác nhận đã đư c giải quyết xong. Vì vậy, Hội đồng xét xử kh ng đề cập giải quyết.

Về hành vi của những cá nhân khác trong vụ án:

Đối với Hoàng Tuấn D là người c mặt khi T và anh Lộc trao đổi về việc chuộc ví, việc giao dịch giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, quá trình bị cáo trộm cắp tài sản anh Dũng kh ng biết và kh ng hưởng l i gì nên Cơ quan điều tra kh ng xử lý anh Dũng là c căn cứ.

Về hành vi giao dịch của bị cáo T và anh Dũng về việc nhận số tiền 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng của anh Lộc sau khi trả ví và giấy tờ trong ví cho anh Lộc, do anh Lộc là người chủ động đề nghị chuộc ví và hứa cảm ơn số tiền trên cho người nhặt đư c ví là giao dịch dân sự nên kh ng c căn cứ để xử lý Hoàng Tuấn T và Hoàng Tuấn D về trách nhiệm hình sự.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại đư c quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

Căn Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Tuấn T phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Tuấn T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/02/2024.

2.Về án phí: Bị cáo Hoàng Tuấn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên toà c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết c ng khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ