- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2024/HS-ST Ngày: 19-6-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Công Gia.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/HS-ST ngày 04/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 05/6/2024, đối với bị cáo:
NGUYỄN DUY S (Tên khác: C E) - sinh năm: 1991; tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp A, xã Ph Ng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim D – sinh năm 1957; vợ, con; Chưa có; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 16/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 80/2009/HS-ST.
Ngày 30/12/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 386/2009/HS-ST.
Ngày 21/8/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 105/2014/HS-ST.
Ngày 29/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 145/2014/HS-ST.
Ngày 23/11/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 303/2018/HS-ST.
Nhân thân: Ngày 18/7/2006, bị Uỷ ban nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng tại Quyết định số 1782/QĐ-UBND.
Ngày 14/6/2017, bị Công an huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 206/QĐ-XPVPHC.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai (có mặt tại phiên tòa).
* Ngườị bị hại: Ông Nguyễn Trọng H – sinh năm 1987. (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Khu C, thị trấn T Ph, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Duy S là đối tượng có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, chưa được xóa án tích. Nguyễn Duy S là người nghiện ma túy và sau khi ra tù, trở về địa phương sinh sống, không có nghề nghiệp.
Vào khoảng 07 giờ, ngày 19/3/2024, Nguyễn Duy S từ nhà ở xã Ph Ng, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai đi xe buýt đến khu vực thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, Nguyễn Duy S do không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người dân để bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày, Nguyễn Duy S đi bộ đến khu vực nhà ông Nguyễn Trọng H ở khu C, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, S phát hiện thấy 01 xe đạp màu xanh - đen đang dựng ở phía trước cửa nhà, không có người trông coi. Nguyễn Duy S vào nhà lấy trộm chiếc xe đạp trên, đem về nhà để bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến khu vực xã Ph Ng, huyện Định Quán, Nguyễn Duy S vào quán cà phê võng ngủ. Sáng hôm sau, Nguyễn Duy S bị Công an xã Ph Ng kết hợp Công an thị trấn Tân Phú đưa về trụ sở làm việc. Tại đây, Nguyễn Duy S đã thừa nhận hành vi lén lút lấy trộm xe đạp của ông H. Vụ án được điều tra làm rõ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL.HĐĐGTS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xác định 01 xe đạp màu xanh đen trị giá 400.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKSTP-ĐN ngày 03/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, không bổ sung gì thêm.
Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy S từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/3/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Trọng H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe đạp màu xanh là của ông Nguyễn Trọng H làm chủ sở hữu bị mất cắp nên Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo nhanh chóng trở về chăm sóc mẹ già lúc ốm đau.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bị hại ông Nguyễn Trọng H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét trong quá trình điều tra ông H đã có lời khai đầy đủ và cũng không có yêu cầu gì đối với bị cáo Sơn việc vắng mặt của ông Nguyễn Trọng H không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Duy S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có căn cứ để xác định: Vào ngày 19/3/2024, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu lén lút trộm cắp 01 xe đạp màu xanh của ông Nguyễn Trọng H, có trị giá 400.000 đồng. Mặc dù tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng tại thời điểm phạm tội bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa án tích.
Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Duy S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, răn đe cũng như phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về tiền sự: Không có.
Về tiền án, nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 04 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”. Tuy nhiên, bị cáo không biết ăn năn hối cải và lấy đó là bài học tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi có ý nên cần có mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tiếp tục cách ly bị cáo Nguyễn Duy S ra khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo sửa chữa những sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Trọng H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên trách nhiệm dân sự không đặt ra đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe đạp màu xanh do ông Nguyễn Trọng H làm chủ sở hữu bị mất cắp nên Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm về việc giải quyết toàn bộ vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Khoản 1 Điều 292, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy S (C E) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy Sơn (C E) 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 20/3/2024).
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy S (C E) phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/6/2024).
Đối với người bị hại vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THADS huyện Tân Phú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu (hồ sơ, án văn)./. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Bá Đức |