vanban.org

Bản án 72/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xử phạt bị cáo Vũ Trọng H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trọng H - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HS-ST.
Ngày: 21-3-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.

Bà Lê Thị Ánh Sáng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Trọng H, sinh năm 1995 tại tỉnh Đồng Nai.

Nơi cư trú: Tổ B, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn P và bà Phạm Thị H1 (đã chết); Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 trong gia đình; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Ông Hoa Xuân Q, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Hoa Thị H2, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

+ Ông Văn Viết T, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 18/02/2023, Vũ Trọng H và Phạm Phước D, sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, đang dừng xe mô tô biển số 60G1-010.45 nhãn hiệu Winner trên đoạn đường liên xã L - L thuộc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì ông Văn Viết T, sinh năm 1970, ngụ tại ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là tài xế ô tô tải biển số 72H-008.30 lái xe thuê cho ông Hoa Xuân Q, sinh năm 1979, ngụ tại ấp A, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đi ngang qua. Cùng lúc này, H và D bị nước bọt văng trúng người, cả hai cho rằng ông T là người đã nhổ nước bọt vào người mình nên D điều khiển xe mô tô nêu trên chở H đuổi theo xe ô tô do ông T điều khiển. Khi đến lô cao su gần Quốc lộ E thuộc khu A, xã L, huyện L, D dừng xe trên làn đường dành cho xe mô tô rồi nói H lấy 01 cục đá có kích thước 04 x 06 cm, D ngồi trên xe còn H cầm cục đá nêu trên đi bộ rồi trèo qua dải phân cách cứng đứng chờ ở làn đường số 3. Khi thấy xe ô tô do ông T điều khiển đi đến gần khu vực H đang đứng thì H cầm cục đá ra hiệu nên ông T bật xi nhan phải rồi điều khiển xe tấp vào lề thì lúc này H liền cầm cục đá ném trúng bên phải kính chắn gió phía trước của xe ô tô rồi H bỏ chạy về phía D. Sau đó, D điều khiển xe mô tô chở H bỏ chạy thoát. Hậu quả, kính chắn gió bị nhiều vết nứt phía bên trái. Cùng ngày, ông T đến Công an xã L để trình báo sự việc. Qua công tác xác minh, đến ngày 24/02/2023, Công an xã L mời Vũ Trọng H làm việc đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 217/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 kính chắn gió xe ô tô biển số 72H-008.30 nhãn hiệu Hyundai (nhập khẩu, loại HD320, màu trắng (đã qua sử dụng) có trị giá 10.972.000 đồng.

Việc thu giữ, tạm giữ, tài liệu, đồ vật: 01 cục đá có kích thước 04 x 06cm H sử dụng vào việc phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hoa Xuân Q yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.

Tại Cáo trạng số 230/CT-VKSLT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Vũ Trọng H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ngày 28/12/2023, Tòa án nhân dân huyện Long Thành ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 30/2023/HSST-QĐ đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tiến hành cho ông Văn Viết T nhận dạng đối với những hình ảnh của Phạm Phước D mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu thập được, nếu có căn cứ thì tiến hành khởi tố bị can đối với D để điều tra, xử lý theo quy định.

Ngày 29/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành có văn bản số 19A/CV-VKSLT giữ nguyên quan điểm, đề nghị Tòa án xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Trọng H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Vũ Trọng H mức án từ 10 (mười) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hoa Xuân Q yêu cầu bị cáo bồi thường 10.972.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trọng H khai nhận: Vào lúc 09 giờ 45 phút ngày 18/02/2023, bị cáo có hành vi dùng 01 cục đá có kích thước 04 cm x 06 cm ném vỡ kính chắn gió phía trước xe ô tô tải biển kiểm soát 72H-008.30 nhãn hiệu Hyundai có trị giá 10.972.000 đồng do ông Hoa Xuân Q là chủ sở hữu.

Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo Vũ Trọng H đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi ném đá làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo muốn thể hiện bản thân nên đã thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp chế tài của pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước 04 x 06 cm là công cụ bị cáo sử dụng phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hoa Xuân Q yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Xét thấy, tài sản bị hư hỏng là 01 kính chắn gió phía trước xe ô tô biển số 72H-008.30 nhãn hiệu Hyundai (nhập khẩu, loại HD320, màu trắng (đã qua sử dụng) thuộc quyền sở hữu của ông Q, đối với ông Văn Viết T chỉ là người lái xe thuê cho ông Q, không có thỏa thuận gì khác. Do đó, ông Q yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm là có căn cứ. Theo Kết luận định giá tài sản số 217/KL-HĐĐGTS ngày 07/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận kính chắn gió nêu trên có trị giá là 10.972.000 đồng. Ông Q không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định thiệt hại khác do hành vi của bị cáo gây ra. Do đó, căn cứ vào Kết luận định giá tài sản buộc bị cáo bồi thường cho ông Q số tiền 10.972.000 đồng là có cơ sở.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, biển số 60G1-010.45 thuộc quyền sở hữu của anh Vũ Quang T1 tuy nhiên anh T1 không biết bị cáo sử dụng phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ là có căn cứ.

Đối với Phạm Phước D, theo lời khai của bị cáo H thì D đồng phạm trong việc ném kính chắn gió xe ô tô nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa làm việc được với D. Ngoài lời khai của bị cáo H thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh D đồng phạm với H. Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành vẫn giữ nguyên quan điểm không khởi tố bị can đối với D. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh, điều tra để xử lý.

Về án phí: Bị cáo Vũ Trọng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 548.600 đồng (10.972.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 327, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Trọng H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.

2. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 cục đá kích thước 04 x 06 cm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vũ Trọng H bồi thường cho ông Hoa Xuân Q số tiền 10.972.000 đồng (mười triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Bị cáo Vũ Trọng H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 548.600 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Trọng H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Hoa Xuân Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoa Thị H2, ông Văn Viết T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ