vanban.org

Bản án 72/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Oanh K với anh Hà Văn Đ

1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Oanh K đƣợc ly hôn với anh Hà Văn Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2020-KH do Ủy ban nhân dân phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 07/02/2020) 2. Về con chung: Giao con chung tên Hà Kiều N, sinh ngày 01/6/2020 cho chị Cao Thị Oanh K trực tiếp nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Cao Thị Oanh K yêu cầu ly hôn, nuôi con với anh Hà Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Oanh K với anh Hà Văn Đ
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST
Ngày 31 - 5 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Phạm Tú Nhi – Hƣu Trí;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm – Chủ tịch Hội LHPN phƣờng Bình Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn - Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 78/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Oanh K, sinh năm 1991; Thƣờng trú: Số B đƣờng P, khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt

- Bị đơn: Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1991; thƣờng trú: Ấp N, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Số E, đƣờng Q, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 02 năm 2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Cao Thị Oanh K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Cao Thị Oanh K và anh Hà Văn Đ sau thời gian tìm hiểu khoảng 02 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cƣới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận kết hôn số 24/2020-KH, ngày 07/02/2020.

Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại số E, đƣờng Q, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cho đến tháng 02/2024 do anh Hà Văn Đ có hành vi đánh chị Cao Thị Oanh K nên chị K cùng với con chuyển đi chỗ khác sinh sống. Trong cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc, do anh Hà Văn Đ gia trƣởng, thƣờng xuyên chửi bới, đánh đập chị Cao Thị Oanh K, vợ chồng đã trao đổi nhƣng tình cảm không đƣợc cải thiện. Nay, chị Cao Thị Oanh K xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với Anh Hà Văn Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Hà Kiều N, sinh ngày 01/6/2020. Sau khi ly hôn, chị Cao Thị Oanh K có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh Hà Văn Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Hiện nay chị Cao Thị Oanh K đang làm công nhân tại khu chế xuất L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, thu nhập hàng tháng khoảng 9.000.000 đồng - 11.000.000 đồng, thời gian đi làm từ 7 giờ 30 đến 16 giờ 30, nghỉ ngày chủ nhật. Anh Hà Văn Đ lao động tự do, thu nhập khoảng 600.000 đồng/ngày, thời gian đi làm không cố định. Từ khi vợ chồng sống ly thân con chung ở với chị Cao Thị Oanh K, do chị Cao Thị Oanh K trực tiếp chăm sóc.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Cao Thị Oanh K không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Bị đơn anh Hà Văn Đ:

Đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng nhƣng không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố cũng không cung cấp chứng cứ đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả các đƣơng sự là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc vắng mặt của các đƣơng sự: Nguyên đơn chị Cao Thị Oanh K có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Hà Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa hai lần liên tiếp không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định của Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Oanh K và anh Hà Văn Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng theo giấy chứng nhận kết hôn số 24/2020-KH ngày 07/02/2020 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị Cao Thị Oanh K cho rằng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, không có sự chia sẻ với nhau và anh Hà Văn Đ thƣờng xuyên đánh, mắng chị K. Mặc dù chị K có trao đổi với anh Đ nhƣng tình cảm vợ chồng không đƣợc cải thiện, thực tế vợ chồng đã sống ly thân. Nay, chị Cao Thị Oanh K xác định tình cảm vợ chồng với anh Hà Văn Đ không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau đƣợc nên yêu cầu đƣợc ly hôn. Bản thân anh Hà Văn Đ sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã triệu tập đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh Hà Văn Đ không có mặt và cũng không có bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn và không muốn hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân này cũng không đạt đƣợc mục đích. Vì vậy, xét thấy không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung của vợ chồng nên yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị Oanh K là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Cao Thị Oanh K và anh Hà Văn Đ có 01 con chung tên Hà Kiều N, sinh ngày 01/6/2020. Chị Cao Thị Oanh K có nguyện vọng đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuoi dƣỡng cần cần cứ vào quyền lợi mọt mặt của con chƣa thành niên. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân con chung do chị Cao Thị Oanh K trực tiếp nuôi dƣỡng, cháu vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt, đồng thời cháu Hà Kiều N còn nhỏ và là con gái cần sự chăm sóc trực tiếp từ ngƣời mẹ. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định của con chung cần tiếp tục giao cháu Hà Kiều N, sinh ngày 01/6/2020 cho chị Cao Thị Oanh K trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh Hà Văn Đ có quyền đi lại thăm con.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Chị Cao Thị Oanh K tự nguyện không yêu cầu anh Hà Văn Đ cấp dƣỡng nuôi các con chung. Đây là sự tự nguyện của đƣơng sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về chi phí đăng thông báo: Nguyên đơn chị Cao Thị Oanh K tự nguyện chịu toàn bộ chi phí với số tiền 3.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.

Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Cao Thị Oanh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào các Điều 147, 180, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Oanh K với anh Hà Văn Đ

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Oanh K đƣợc ly hôn với anh Hà Văn Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2020-KH do Ủy ban nhân dân phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng cấp ngày 07/02/2020)

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Hà Kiều N, sinh ngày 01/6/2020 cho chị Cao Thị Oanh K trực tiếp nuôi dƣỡng.

Sau ly hôn chị Cao Thị Oanh K và anh Hà Văn Đ đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

1.3. Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Cao Thị Oanh K về việc không yêu cầu anh Hà Văn Đ cấp dƣỡng nuôi các con chung.

1.4. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu giải quyết.

2. Về chi phí đăng thông báo: Chị Cao Thị Oanh K tự nguyện chịu toàn bộ chi phí thông báo trên phƣơng tiện thông tin đại chúng số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng. Chị Cao Thị Oanh K đã nộp đủ.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Thị Oanh K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn đƣợc khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004517 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ