vanban.org

Bản án 72/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn anh Nguyễn Hồng Ph.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hồng Trúc Nh, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hồng Ph. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Hồng Lê; Nguyễn Hồng Phong"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn anh Nguyễn Hồng Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH CHƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 14/8/2024.
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Lam và ông Nguyễn Tư Hải Ph.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Ngọc Soa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- DS, ngày 29/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu 1, thị trấn Th, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng Ph, sinh năm 1993. Địa chỉ: Xóm L, xã Ph, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng L trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng L kết hôn với anh Nguyễn Hồng Ph vào ngày 27 tháng 10 năm 2014 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Thọ Xuân, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì vợ chồng mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, cách nuôi dạy con và mâu thuẫn chuyện kinh tế trong gia đình dẫn đến thường xuyên cãi vã và xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù đã được bố mẹ và họ hàng khuyên giải nhưng mâu thuẫn giữa vợ chồng vẫn không thế hàn gắn. Đến khoảng cuối năm 2021 thì vợ chồng sống ly thân, cắt đứt mọi liên lạc. Nay chị L xét thấy tình cảm vợ chồng là không còn nữa nên đề nghị toà án giải quyết cho chị L được ly hôn anh Nguyễn Hồng Ph.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hồng Trúc Nh, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2014. Hiện con đang ở với chị L từ nhỏ cho đến nay, nếu vợ chồng ly hôn thì chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hồng L không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Hồng Ph: Sau khi thụ lý vụ án thì Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cân, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho anh Nguyễn Hồng Ph nhưng anh Ph không đến Toà án làm việc theo Giấy triệu tập và Thông báo của Toà án nên không lấy được ý kiến của anh cũng như hoà giải.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Bị đơn không đến Toà án làm việc theo giấy triệu tập và Thông báo của Toà án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử.

- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn anh Nguyễn Hồng Ph.

- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hồng Trúc Nh, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hồng Ph.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Đây là vụ án thuộc trường hợp không hoà giải được vì bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án được quy định tại Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 24/7/2024 Toà án đã mở phiên toà xét xử vụ án nhưng do bị đơn anh Nguyễn Hồng Ph vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà. Sau khi hoãn phiên toà thì toà án đã tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên toà và Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Hồng Ph. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn vắng mặt nhưng đã được toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Nguyễn Hồng Ph là hợp pháp, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thọ Xuân, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2021 thì mới bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do giữa hai vợ chồng không cùng quan điểm sống, cách nuôi dạy con và mâu thuẫn chuyện kinh tế trong gia đình dẫn đến thường xuyên cãi vã và xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ cuối năm 2021 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã triệu tập để công khai chứng cứ và hoà giải nhưng chị Nguyễn Thị Hồng L vẫn kiên quyết xin ly hôn, còn anh Nguyễn Hồng Ph vắng mặt, không có ý kiến và không đến Toà án làm việc.

Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng L và anh Nguyễn Hồng Ph hiện tại chỉ tồn tại về mặt hình thức, thực chất tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, nếu kéo dài thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng L, xử cho chị được ly hôn với với anh Nguyễn Hồng Ph là đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Hồng Trúc Nh, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2014. Chị Nguyễn Thị Hồng L có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Hồng Ph cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Hồng Ph đã được Toà án triệu tập hợp lệ Nhều lần nhưng anh Nguyễn Hồng Ph không đến Toà án làm việc nên không biết được ý kiến của anh về việc nuôi con chung. Nguyện vọng của cháu Nguyễn Hồng Trúc Nh là được ở với chị Nguyễn Thị Hồng L. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Nguyễn Hồng Trúc Nh hiện nay đang ở với chị Nguyễn Thị Hồng L ổn định, chị L có đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con. Do đó, cần chấp nhận ý kiến của chị Nguyễn Thị Hồng L về việc giao cháu Nguyễn Hồng Trúc Nh cho chị Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hồng Ph là đúng với quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng L được ly hôn anh Nguyễn Hồng Ph.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Hồng Trúc Nh, sinh ngày 03 tháng 8 năm 2014 cho chị Nguyễn Thị Hồng L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Hồng Ph.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) theo biên lai số 0011800, ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án Ln toà án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ