- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Văn N và bị đơn Nguyễn Thị Thu H.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________________ Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lương Tấn Nghị
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Hiếu – Kiểm sát Viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 219/2024/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Nguyễn Văn N, sinh năm 1994;
Bị đơn: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997;
Đồng địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Đều vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Văn N trình bày: Ông N và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa P vào ngày 24/4/2015. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình cố gắng khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng sống không hạnh phúc.
Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Nay ông N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên ông N yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hải Y, sinh ngày 18/4/2016 và Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/6/2018, hiện nay con chung Nguyễn Hải Y do ông N trực tiếp nuôi dưỡng, con chung Nguyễn Hải Đ do bà Htrực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông N yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hải Yến và thống nhất giao con chung Nguyễn Hải Đ cho bà Htrực tiếp nuôi dưỡng, ông N, bà Hkhông ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Ông N không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về án phí: Ông N tự nguyện chịu theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày về quan hệ hôn nhân và con chung đúng như ông N trình bày. Nay ông N xin ly hôn bà Hthống nhất ly hôn với ông N, thống nhất trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/6/2018 và giao con chung Nguyễn Hải Y, sinh ngày 18/4/2016 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, ông N, bà Hkhông ai phải cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên bà Hvắng mặt không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 58, Điều Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn, giao con chung tên là Nguyễn Hải Yến, sinh ngày 18/4/2016 cho nguyên đơn ông N trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/6/2018 cho bị đơn bà Htrực tiếp nuôi dưỡng. Về phần cấp dưỡng: Hai bên đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí đề nghị HĐXX giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Nguyễn Thị Thu H có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Nguyễn Văn N và bị đơn Nguyễn Thị Thu H tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa P vào ngày 24/4/2015 là hôn nhân hợp pháp. Ông N khai trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai đúng như xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Hòa P tại biên bản xác minh ngày 07/8/2024 của UBND xã Hòa P và bị đơn bà Hcũng có ý kiến thống nhất ly hôn.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa ông N và bà Hđã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn của ông N và bà Hnhư đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy, con chung tên Nguyễn Hải Yến, sinh ngày 18/4/2016, lâu nay đã quen sống cùng ông N, hơn nữa cháu có nguyện vọng ở với ông N, cháu Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/6/2018 hiện còn nhỏ và lâu nay do bà Htrực tiếp nuôi dưỡng. Nguyên đơn và bị đơn cũng thống nhất giao con chung Nguyễn Hải Y cho nguyên đơn ông N trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Hải Đ cho bị đơn bà Htrực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên đương sự, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu 150.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại phiếu thu số 0001000 ngày 05/8/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Tây Hòa, nên hoàn lại cho nguyên đơn 150.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn Nguyễn Văn N và bị đơn Nguyễn Thị Thu H.
2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn Nguyễn Văn N và bị đơn Nguyễn Thị Thu H về việc: Giao con chung tên Nguyễn Hải Y, sinh ngày 18/4/2016 cho nguyên đơn Nguyễn Văn N trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 01/6/2018 cho bị đơn Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng.
Nguyên đơn Nguyễn Văn N và bị đơn Nguyễn Thị Thu H không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Nguyễn Văn N phải chịu 150.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001000 ngày 05/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, nên hoàn lại cho nguyên đơn Nguyễn Văn N 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - CC THADS huyện Tây Hòa; - VKSND huyện Tây Hòa; - UBND xã Hòa Phú CNKH số 108/2018); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thúy |