- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung giữa chị Vũ Minh T và anh Phạm Hồng P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Minh T được ly hôn anh Phạm Hồng P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST Ngày 29- 8 - 2024 “V/v ly hôn và nuôi con chung giữa chị Tuyến và anh Phong” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Ngọc Tuý;
2.Bà Phạm Thị Loan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 116/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 42/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Minh T, sinh năm 1983
Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Nơi ở: Tổ H, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Phạm Hồng P, sinh năm 1984
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt chị T, vắng mặt anh P)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Vũ Minh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Hồng P tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A vào ngày 09/3/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình anh P. Quá trình chung sống đến tháng 6/2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, anh P còn ghen tuông vô cớ. Mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 5/2024 vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh P không còn, chị xin ly hôn anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Phương T1 sinh ngày 15/7/2018 và Phạm Hồng Q sinh ngày 03/12/2023, con T1 đang ở với anh P, con Q đang ở với chị. Ly hôn, chị nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi con Q, chị để anh P trực tiếp nuôi con T1, chị và anh P không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện tại, chị không có thai nghén gì.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Hồng P vắng mặt nên không có ý kiến trình bày trình bày.
Kết quả xác minh với gia đình anh Phạm Hồng P, cơ sở thôn T, xã A và cơ sở tổ H, thị trấn A thấy: Chị Vũ Minh T và anh Phạm Hồng P là vợ chồng, quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì gia đình và cơ cở không biết rõ, chỉ biết do tính tình vợ chồng không hợp nhau, hiện tại vợ chồng đã ly thân. Nay chị T có đơn xin ly hôn anh P gia đình và cơ sở đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị T, anh P có 02 con chung là Phạm Phương T1 sinh ngày 15/7/2018 và Phạm Hồng Q sinh ngày 03/12/2023, con T1 đang ở với anh P, con Q đang ở với chị T, nếu Toà án giải quyết cho chị T và anh P ly hôn. Về giao con và cấp dưỡng cho con đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản gia đình và cơ sở thôn không biết rõ.
Hiện tại, anh P đi làm ăn xa nhưng vẫn liên lạc về với gia đình. Gia đình đã nhận các văn bản tố tụng của Toà án và đã thông báo cho anh M biết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Viện kiểm sát không đưa ra quan điểm chấp hành pháp luật của bị đơn tại phiên tòa.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Minh T được ly hôn anh Phạm Hồng P.
Về nuôi con chung: Giao con chung là Phạm Phương T1 sinh ngày 15/7/2018 cho anh Phạm Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Phạm Hồng Q sinh ngày 03/12/2023 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền đi lại thăm nom giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết;
Về án phí: Chị Vũ Minh T phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Vũ Minh T khởi kiện ly hôn và nuôi con chung với anh Phạm Hồng P. Do anh P là bị đơn cư trú tại thôn T, xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh P đã được Toà án triệu tâp hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Minh T và anh Phạm Hồng P là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân xã A cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14 ngày 09/3/2017 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến tháng 6/2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau. Mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 5/2024 thì vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh P không còn, chị xin ly hôn anh P. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh P không có mặt, anh P không có thiện chí hoà giải. Mặt khác thời gian vợ chồng ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh P đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân của anh chị thực tế chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, vì vậy cần xử cho chị T được ly hôn anh P là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Vũ Minh T và anh Phạm Hồng P có 02 con chung là Phạm Phương T1 sinh ngày 15/7/2018 và Phạm Hồng Q sinh ngày 03/12/2023, con T1 đang ở với anh P, con Q đang ở với chị T. Ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi dưỡng con Q, chị để anh P nuôi dưỡng con T1, còn anh P không thể hiện quan điểm. Con Q dưới 36 tháng tuổi lại đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng, con T1 trên 36 tháng tuổi lại đang do anh Q và gia đình anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, cả anh P và chị T đều có điều kiện nuôi con ngang nhau nên giữ nguyên tình trạng nuôi con chung như hiện nay, giao con Phạm Phương T1 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Phạm Hồng Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình.
Về tài sản: Chị Vũ Minh T không yêu cầu Toà án giải quyết, anh Phạm Hồng P không có quan điểm trình bày nên về tài sản Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Vũ Minh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Minh T và anh Phạm Hồng P có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 , Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Minh T được ly hôn anh Phạm Hồng P.
2.Về nuôi con chung: Xử giao con chung Phạm Phương T1 sinh ngày 15/7/2018 cho anh Phạm Hồng P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Phạm Hồng Q sinh ngày 03/12/2023 cho chị Vũ Minh T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và đều có quyền đi lại thăm nom và giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Anh P, chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
3.Về tài sản: Hội đồng xét xử không giải quyết.
4.Về án phí: Chị Vũ Minh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo biên lai thu số 0004747 ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ được chuyển thành tiền án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Minh T có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn anh Phạm Hồng P vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục thi hành án dân sự h.Quỳnh Phụ; - Nơi ĐKKH: UBND thị xã A; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Duyên |