- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thư - Hoàng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 174 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2024/HNGĐ - ST Ngày: 27-6-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đức Chung.
Ông Trịnh Sâm Châu.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2024/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Kim T, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. SĐT: xxxx.xxx.xxx
- Bị đơn: Anh Lê Khải H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Chị T, anh H vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/3/2024 và các lời khai tại hồ sơ, nguyên đơn chị Phạm Kim T trình bày:
Chị và anh Lê Khải H xây dựng gia đình với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 20 tháng 3 năm 2021. Việc kết hôn do chị và anh H đều tự nguyện. Nay chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Khải H. Nguyên nhân chị T yêu cầu ly hôn là do mâu thuẫn về kinh tế, anh H không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con,thường xuyên cãi vã nhau. Chị và anh H đã sống ly thân từ tháng 3/2022 đến nay. Hiện chị T xác định không còn tình cảm với anh H, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh H.
Về con chung: Chị T khai chị và anh H có một người con chung tên Lê Vĩnh K, sinh ngày 09/4/2019. Ly hôn, chị T đề nghị giao cháu K cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng vì từ khi ly thân đến nay cháu K sinh sống cùng anh H và chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Chị T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.
Bị đơn anh Lê Khải H vắng mặt nên không có lời khai.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Lê Khải H không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; Về con chung: Giao con chung là cháu Lê Vĩnh K, sinh ngày 09/4/2019 cho anh Lê Khải H tiếp tục nuôi dưỡng. Tạm thời chị T không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Kim T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Lê Khải H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên Tòa và giấy triệu tập nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T và anh H.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Kim T và anh Lê Khải H xây dựng gia đình với nhau năm 2021, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 20 tháng 3 năm 2021 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh H biết để đến Tòa làm việc nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, do đó không có lời khai của anh H tại hồ sơ.
Chị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh H với lý do vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế, anh H không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, thường xuyên cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 03/2022 đến nay không bàn bạc đoàn tụ được. Do đó, xác định chị T và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T và anh H có 01 người con chung tên là Lê Vĩnh K, sinh ngày 09/4/2019. Chị T có nguyện vọng giao cháu K cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét chị T trình bày thời gian qua anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu K tốt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh H cũng không có ý kiến phản ánh hay yêu cầu gì đối với việc nuôi con chung tại địa phương cũng như tại Tòa án. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu K cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T khai không cấp dưỡng nuôi con, anh H không có ý kiến trình bày nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Kim T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 174, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Phạm Kim T đối với anh Lê Khải H.
Xử cho chị Phạm Kim T được ly hôn với anh Lê Khải H.
Giao con chung là cháu Lê Vĩnh K, sinh ngày 09/4/2019 cho anh Lê Khải H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị Phạm Kim T không cấp dưỡng nuôi con.
Chị T được quyền đến thăm nom con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí: Chị Phạm Kim T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015440 ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành. Chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Chị T và anh H được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - VKSND huyện Long Thành (1); - Chi cục THADS huyện Long Thành (1); - UBND xã Long Phước (GCNKH số 26 ngày 20/3/2021) (1); - Các đương sự (2); - Lưu (3). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Minh Thảo |