vanban.org

Bản án 72/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n c các i u 56, 58, 81, 82, 83, 84 uật H n nhân và gia đình n m 2014; các i u 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015; điểm a khoản 5 i u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của y an Th ờng vụ quốc hội quy định v m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H và bị đơn ông Nguyễn…"
  • Tòa quyết gì? C n c các i u 56, 58, 81, 82, 83, 84 uật H n nhân và gia đình n m 2014; các i u 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015; điểm a khoản 5 i u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của y an Th ờng vụ quốc hội quy định v m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 72/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-3-2024
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Chí Bình.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Phụng;

2. Bà Phan Thị Nga.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 829/2023/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1998; địa chỉ: tổ E, ấp V, xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc H trình bày, qua thời gian tự tìm hiểu, bà H và ông T kết hôn với nhau vào năm 2022, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang, vào ngày 26/12/2022. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh một con chung tên Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 28/3/2023. Hiện tại, con chung đang được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng. Đầu năm 2023, vợ chồng phát bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T không đi làm phụ giúp kinh tế gia đình. Vợ chồng không còn sống chung cách nay hơn 08 tháng.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông T; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Tú A, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện bao gồm: Bản sao Trích lục kết hôn số 487/2022/TLKH-BS ngày 26/12/2022 do Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn T (số đăng ký 77/2022, ngày 26/12/2022); bản sao Giấy khai sinh 42/2023 ngày 03/4/2023 do Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang cấp đối với Nguyễn Ngọc Tú A.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà H và ông T kết hôn vào năm 2022, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông T hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, ông T không lo làm ăn, chăm lo kinh tế gia đình.

Xét thấy, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã giữa bà H và ông T là do không lo làm ăn, chăm lo kinh tế gia đình. Ông T bỏ nhà đi, không có giải pháp để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Từ đó cho thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu A cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, do bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, do bà H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T; bà H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Tú A; ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Đồng thời, ông T cư trú trên địa bàn huyện C. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà H và ông T tự nguyện kết hôn vào năm 2022 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Bà H xác định, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm sống, ông T không đi làm phụ giúp kinh tế gia đình. Bà H, ông T không còn sống chung cách nay hơn 08 tháng.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà H và ông T thường xuyên cãi vã và không còn sống chung cách nay hơn 08 tháng. Vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho ông T nhưng ông T không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà H. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà H, ông T là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà H xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 28/3/2023. Bà H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy, con chung đang được bà H chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp con chung phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao cháu A cho bà H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi dưỡng cháu A nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n c các i u 56, 58, 81, 82, 83, 84 uật H n nhân và gia đình n m 2014; các i u 144, 147, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự n m 2015; điểm a khoản 5 i u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 n m 2016 của y an Th ờng vụ quốc hội quy định v m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc H.

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 53, ngày 24/6/2019 do Ủy ban nhân dân xã L, thị xã G, tỉnh Tiền Giang cấp cho bà Nguyễn Thị Ngọc H và ông Nguyễn Văn T không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 28/3/2023. Ông Nguyễn Văn T không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Nguyễn Thị Ngọc H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về án phí sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300 000 a tr m nghìn đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300 000 a tr m nghìn đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014754 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 06 tháng 12 năm 2023; bà Nguyễn Thị Ngọc H đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Nguyễn Thị Ngọc H có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Tr ờng hợp ản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại i u 2 uật Thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quy n thoả thuận thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc ị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các i u 6, 7 và 9 uật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại i u 30 uật thi hành án dân sự

Cỡ chữ