vanban.org

Bản án 72/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 10/05/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Văn K về việc yêu cầu: Hủy Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K trú tại Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Lần hai) và yêu…

Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Triệu Văn K là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm, hoàn trả cho ông Triệu Văn K số tiền 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp tạm ứng án phí (Ông Triệu Văn T là người nộp thay cho ông Triệu Văn K) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 72/2024/HC-ST Tuyên án 10/05/2024
Phúc thẩm Bản án 335/2024/HC-PT Tuyên án 27/08/2024

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Vụ án hành chính về việc khởi khởi kiện quyết định hành chính"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Văn K về việc yêu cầu: Hủy Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K trú tại Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Lần hai) và yêu…
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật tố tụng hành chính; Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 191 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2024/HC-ST
Ngày 10 - 5 - 2024
V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Bà H’ Mơ Niê, bà Phạm Thị Thêm.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk

Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 232/2023/TLST-HC ngày 30/11/2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HC ngày 29/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2024/QĐST-HC ngày 17/4/2024, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Triệu Văn K, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn Đ; Sinh năm 1982

Địa chỉ: Tổ dân phố 5, thị trấn K, huyện K1, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

2. Người bị kiện: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Địa chỉ: TDP1, thị trấn K, huyện K1, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần S, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND huyện K. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện:

- Ông Lê Ngọc T - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Ông Phan Văn T1 - Chủ tịch UBND xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn T1; Chức vụ: Chủ tịch UBND xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/9/2023, quá trình tham gia tố tụng, người khởi kiện là ông Triệu Văn K và người đại diện theo ủy quyền ông Trần Văn Đ trình bày:

Vào năm 1987 ông Trần Văn K có khai hoang một số diện tích đất khoảng 4823 m2 tọa lạc tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để trồng lương thực theo Điều 5 Luật đất đai năm 1993 cho phép. Nhưng vào năm 2009 UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thu hồi diện tích đất trên đển phục vụ dự án, theo biên bản ngày 27/11/2009 và biên bản ngày 08/12/2009 giữa UBND xã E và gia đình ông K, nhưng từ lúc thu hồi đến nay vẫn chưa tiến hành bồi thường đất, tiền cho người bị thu hồi đất theo Luật đất đai qua các thời kỳ, ông K đã làm nhiều đơn khiếu nại đến UBND xã E và UBND huyện K.

Ủy ban nhân dân xã E đã giải quyết khiếu nại lần 1, do không đồng ý với quyết định giải quyết của UBND xã E nên ông K đã khiếu nại đến UBND huyện K, tại Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã giải quyết khiếu nại (Lần hai). Theo Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk thì ông Triệu Văn K có ý kiến và yêu cầu sau:

Về trình tự thủ tục và thẩm quyền ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K trú tại Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Lần hai) là phù hợp với quy định của pháp luật nên không có ý kiến gì.

Về nội dung của quyết định: Vào năm 1987 gia đình ông K khai hoang được diện tích đất khoảng 4.823 toạ lạc tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk để trồng lương thực theo luật đất đai năm 1993 cho phép tại Điều 5 Luật đất đai năm 1993. Nhưng vào năm 2009 UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk thu hồi diện tích đất đó để phục vụ dự án (Theo biên bản ngày 27/11/2009 và biên bản ngày 8/12/2009 giữa UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk với gia đình). Nhưng khi thu hồi đất của gia đình cho đến nay UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa bồi thường về đất. Ông K đã khiếu nại lên cấp xã E cho đến huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 28/8/2023 chủ tịch UBND huyện K ký quyết định khiếu nại lần 2 số 3991/QĐ-UBND lấy lý do đất không đủ điều kiện bồi thường đất là sai thực tế, trái quy định của Luật đất đai quy định tại Điều 74, 75 Luật đất đai năm 2013.

Nên ông K khởi kiện yêu cầu Toà án Tuyên huỷ Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K trú tại Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Lần hai). Yêu cầu Toà án buộc UBND huyện K phải thực hiện hành vi ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Quá trình tham giải quyết vụ án, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk, ông Trần S trình bày:

Về nguồn gốc sử dụng đất của ông Triệu Văn K:

Tại vị trí đất ông Triệu Văn K khiếu nại nằm trong Sơ đồ quy hoạch vùng đất Tân Lập để dùng xây dựng các công trình phúc lợi công cộng xã E, được thể hiện trong bản đồ giải thửa năm 1999 thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 28, có diện tích 233.128m2 thuộc đất hoang đồi núi. Tại Sổ mục kê đất đai xã E lập năm 1999, ghi thửa 244, tờ bản đồ số 28, tổng diện tích 233.355 m2 loại đất hoang, ký hiệu HG. Tại vị trí ông Triệu Văn K khiếu nại, được xác định là loại “đất bằng chưa sử dụng” do UBND xã E quản lý.

Trong năm 1999, hộ ông Triệu Văn K có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do bà Phan Thị K1 ký (vợ ông Triệu Văn K), qua kiểm tra không có thửa đất Ông đang khiếu nại (có phô tô các tài liệu kèm theo).

Qua làm việc với cán bộ của UBND xã E qua các thời kỳ, cũng như các hộ sinh sống cùng thời điểm với hộ ông Triệu Văn K (hộ: Đinh Quang C, Lôi Văn G, Lê Văn V) cho biết khu đất ông K khiếu nại trước đây là khu đất trống, chưa ai canh tác, đến khoảng sau năm 2006 có thấy ông K canh tác trồng hoa màu (cây sắn) được vài vụ thì UBND xã múc lấy đất để đắp khu trung tâm xã, từ đó đến nay khu đất này lại bỏ trống.

Như vậy khẳng định rằng trước đây vào khoảng năm 2006, do UBND xã E quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến hộ ông Triệu Văn K lấn chiếm sử dụng trồng cây hoa màu với diện tích 4.823m2 trên diện tích đất công do xã quản lý nhưng UBND xã không có biện pháp xử lý dứt điểm theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi múc đất, san gạt đến nay khu đất này lại bỏ trống cây bụi mọc hoang.

Về quá trình giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND xã E:

Tại vị trí ông Triệu Văn K khiếu nại thuộc đất chưa sử dụng do xã quản lý, ngay khi phát hiện việc ông K lấn chiếm đất trái pháp luật vào ngày 27/11/2009 UBND xã E không tiến hành các thủ tục để xử lý vi phạm hành chính mà tiếp đến ngày 08/12/2009 khi có chủ trương lấy đất để san lấp mặt bằng khu trung tâm xã, UBND xã E lại ghi nhận thiệt hại hoa màu (cây sắn) do hộ ông K trồng trên đất lấn chiếm với giá trị là 14.469.000 đồng, đồng thời thỏa thuận hộ ông K nộp thêm số tiền chênh lệch là 10.531.000 đồng để được giao lô đất ở nông thôn (là lô đất 368, tờ bản đồ số 21, nay là thửa đất số 368, tờ bản đồ trích đo số 01, diện tích 146,7 m2 có giá lúc đó đang trình Sở Tài chính thẩm định phê duyệt để đấu giá là 25.000.000 đồng và sau này vào năm 2017 đã tổ chức đấu giá thành, người trúng đấu giá là bà La Thị D). Việc làm này là trái với pháp luật hiện hành.

Về thủ tục giải quyết: Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu của UBND xã E có tổ chức đối thoại với người khiếu nại, nhưng không nêu rõ nội dung cần đối thoại, không thông qua kết quả xác minh của tổ xác minh là chưa đảm bảo quy định.

Về nội dung quyết định: UBND xã E xác định hộ ông Triệu Văn K không đủ điều kiện được bồi thường bằng đất, tuy nhiên lại thống nhất đề nghị được bồi thường cây trồng trên đất là không đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của UBND huyện K:

Biên bản lập ngày 08/12/2009 giữa UBND xã E và hộ ông Triệu Văn K ghi nhận thiệt hại hoa màu (cây sắn) là 14.469.000 đồng do hộ ông K trồng trên đất lấn chiếm và thỏa thuận hộ ông K nộp thêm số tiền chênh lệch là 10.531.000 đồng để được giao lô đất ở (lô đất 368, tờ bản đồ số 21, nay là thửa đất số 368, tờ bản đồ trích đo số 01, diện tích 146,7 m2) có giá lúc đó đang trình Sở Tài chính thẩm định phê duyệt để đấu giá là 25.000.000 đồng là trái với pháp luật hiện hành.

Việc Chủ tịch UBND xã E ban hành Quyết định 64A/QĐ-UBND, ngày 14/4/2023 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K, thường trú tại thôn T, xã E, huyện K là chưa đảm bảo quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu, nội dung của Quyết định chưa đảm bảo quy định của pháp luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất.

Không công nhận nội dung ông Triệu Văn K yêu cầu cấp cho hộ gia đình ông 01 thửa đất ở nông thôn (ONT) có giá trị tương đương lô đất 368, Tờ bản đồ số 21 (nay là thửa đất số 368, tờ bản đồ số 01) diện tích 146,7 m2, mục đích sử dụng là đất ở nông thôn (ONT) hoặc chi trả bằng tiền trên cơ sở xác định đúng giá trị thửa đất tại thời điểm chi trả để bồi thường cho hộ gia đình ông. Lý do: Không đủ điều kiện được bồi thường về đất, không đủ điều kiện được bồi thường, hỗ trợ tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật hiện hành.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân xã E trình bày:

Tại vị trí ông Triệu Văn K khiếu nại thuộc đất chưa sử dụng do xã quản lý, ngay khi phát hiện việc ông K lấn chiếm đất trái pháp luật thì UBND xã E không tiến hành các thủ tục để xử lý vi phạm hành chính. Ngày 08/12/2009 khi có chủ trương lấy đất để san lấp mặt bằng khu trung tâm xã, UBND xã E lại ghi nhận thiệt hại hoa màu (cây sắn) do hộ ông K trồng trên đất lấn chiếm với giá trị là 14.469.000 đồng, đồng thời thỏa thuận hộ ông K nộp thêm số tiền chênh lệch là 10.531.000 đồng để được giao lô đất ở nông thôn là trái với pháp luật. Việc Chủ tịch UBND xã E ban hành Quyết định 64A/QĐ-UBND, ngày 14/4/2023 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K là chưa đảm bảo quy định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu. Trong quá trình giải quyết khiếu nại UBND xã có tổ chức đối thoại với người khiếu nại nhưng không nêu rõ nội dung cần đối thoại, không thông qua kết quả xác minh là chưa đảm bảo theo quy định tại khoản 3 Điều 30 Luật khiếu nại 2011. Về nội dung của Quyết định: UBND xã xác định hộ ông Triệu Văn K không đủ điều kiện bồi thường bằng đất, tuy nhiên thống nhất đề nghị được bồi thường cây trồng trên đất với số tiền 33.761.000đ là không đúng với quy định của pháp luật. Cụ thể: Tại thời điểm UBND xã thực hiện giải phóng mặt bằng xác định thiệt hại năm 2009 ông Triệu văn K thuộc trường hợp thu hồi đất mà không được bồi thường quy định tại khoản 6 Điều 38, Điều 43 Luật đất đai 2003 và Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ. Thời điểm ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (Quyết định số 64A/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch UBND xã E) căn cứ Điều 75, khoản 2 Điều 77 Luật đất đai 2013 hộ ông Triệu Văn K không đủ điều kiện bồi thường về đất. Căn cứ Điều 92 Luật đất đai 2013 hộ ông Triệu Văn K không đủ điều kiện bồi thường về tài sản gắn liền với đất.

Ngày 14/11/2023 Chủ tịch UBND xã E đã ban hành Quyết định số 158/QĐ-UBND về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 64A/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch UBND xã E về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (Lần đầu). Ông K tiếp tục khiếu nại Quyết định số 64A/QĐ-UBND. Ngày 28 tháng 8 năm 2023 Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (lần 2) là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Luật Tố tụng hành chính.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Văn K về việc yêu cầu: Hủy Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K trú tại Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Lần hai) và yêu cầu Toà án buộc UBND huyện K phải thực hiện hành vi ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại đơn khởi kiện, ông Triệu Văn K yêu cầu Tòa án tuyên hủy Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (lần hai). Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 28/8/2023, Chủ tịch UBND huyện K ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (lần hai). Đến ngày 20/9/2023, ông K khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Xét tính hợp pháp của Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk:

Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (lần hai) là phù hợp với khoản 2 Điều 18, Điều 36, Điều 40 Luật khiếu nại năm 2021. Ông Triệu Văn K cũng xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K là đúng pháp luật nên ông K không có ý kiến gì.

Về nội dung Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xét nguồn gốc diện tích đất 4.823m2 tọa lạc tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, ông Triệu Văn K cho rằng được khai hoang năm 1987 để trồng lương thực theo Điều 5 Luật đất đai năm 1993 cho phép. Tuy nhiên căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do người bị kiện cung cấp thể hiện tại vị trí đất ông Triệu Văn K khiếu nại nằm trong Sơ đồ quy hoạch vùng đất Tân Lập để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng xã E, được thể hiện trong bản đồ giải thửa năm 1999 thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 28, có diện tích 233.128m2 thuộc đất hoang đồi núi. Tại Sổ mục kê đất đai xã E lập năm 1999, ghi thửa 244, tờ bản đồ số 28, tổng diện tích 233.355 m2 loại đất hoang, ký hiệu HG. Tại vị trí ông Triệu Văn K khiếu nại, được xác định là loại “đất bằng chưa sử dụng” do UBND xã E quản lý. Như vậy, xét ý kiến trình bày ông K cho rằng diện tích đất 4.823 m2 tọa lạc tại xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk được ông khai hoang năm 1987 để trồng lương thực theo Điều 5 Luật đất đai năm 1993 là không hợp lý. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ kiện người bị kiện có cung cấp hồ sơ thể hiện trong năm 1999, hộ ông Triệu Văn K có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất do bà Phan Thị K1 đăng ký (vợ ông Triệu Văn K) nhưng qua kiểm tra không có thửa đất ông đang khiếu nại, các hộ gia đình liền kề vị trí đất ông K khiếu nại cũng xác định khu đất ông K khiếu nại trước đây là khu đất trống, chưa ai canh tác, đến khoảng sau năm 2006 có thấy ông K canh tác trồng hoa màu (cây sắn) được vài vụ thì UBND xã múc lấy đất để đắp khu trung tâm xã, từ đó đến nay khu đất này lại bỏ trống. Do đó việc ông K cho rằng phần đất do gia đình khai hoang từ năm 1987 là không có căn cứ, quá trình giải quyết vụ kiện ông K không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho ý kiến trình bày của mình ngoài biên bản làm việc ngày 08/12/2009 giữa UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk với ông K nhưng cũng chỉ thể hiện nội dung xác định thiệt hại trên đất cũng như ghi nhận ý kiến của ông K không có giá trị chứng minh cho nguồn gốc sử dụng đất.

Xét nội dung Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28/8/2023 của Chủ tịch UBND nhân dân huyện K về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (Lần 2) về việc “Không công nhận nội dung ông Triệu Văn K yêu cầu cấp cho hộ gia đình ông 01 thửa đất có giá trị tươg đương lô 368, tờ bản đồ 28 (nay là thửa đất 368, trích đo số 01, diện tích 146,7) hoặc chi trả bằng tiền trên cơ sở xác định đúng giá trị thửa đất tại thời điểm chi trả để bồi thường xứng đáng cho hộ gia đình ông”. Lý do không đủ điều kiện bồi thường về đất không đủ điều kiện được bồi thường, hỗ trợ tài sản gắn liền với đất theo quy định của luật đất đai là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 6 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 43 Luật đất đai năm 2003; Điều 7, Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Các Điều 74,75, 82, 92 Luật đất đai năm 2013.

. Xét Quyết định hành chính có liên quan là Quyết định số 64A/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk về giải quyết khiếu nại của ông Triệu Văn K (lần đầu), từ những nhận định trên đã xác định thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành, nội dung Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28/8/2023 của Chủ tịch UBND nhân dân huyện K về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (Lần 2) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, do đó nội dung tại Điều 1 Quyết định số 3991/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện K đã yêu cầu Chủ tịch UBND xã E hủy bỏ Quyết định số 64A/QĐ-UBND là phù hợp. Ngày 14/11/2023 Chủ tịch UBND xã E đã ban hành Quyết định số 158/QĐ-UBND để thu hồi và hủy bỏ Quyết định 64A/QĐ-UBND ngày 14/4/2023 của Chủ tịch UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk về giải quyết khiếu nại của ông Triệu Văn K (lần đầu) là phù hợp.

Từ những phân tích và lập luận trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Văn K về yêu cầu huỷ Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K (Lần hai) và yêu cầu Toà án buộc UBND huyện K phải thực hiện hành vi ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông Triệu Văn K phải chịu án phí. Tuy nhiên, ông Triệu Văn K là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 157, Điều 191, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều194, Điều 204, Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Căn cứ khoản 6 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 43 Luật đất đai năm 2003;

Các Điều 74, 75, 82, 92 Luật đất đai năm 2013.

Điều 7, Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Triệu Văn K về việc yêu cầu: Hủy Quyết định số 3991/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Triệu Văn K trú tại Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Lần hai) và yêu cầu Toà án buộc UBND huyện K phải thực hiện hành vi ban hành quyết định thu hồi đất và bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.

2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Triệu Văn K là người cao tuổi nên được miễn án phí hành chính sơ thẩm, hoàn trả cho ông Triệu Văn K số tiền 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp tạm ứng án phí (Ông Triệu Văn T là người nộp thay cho ông Triệu Văn K) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, theo biên lai số AA/2023/0004625, ngày 29/11/2023.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ