- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Thành T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HSST Ngày 09 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền
Hội thẩm nhân dân: Bà Lèo Thị Chan, ông Cầm Văn Chinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Khương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Thành T; sinh năm 1993 tại xã ĐL, huyện HĐ, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Tiểu khu A, thị trấn NT, huyện MS, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Cộng H và bà Nguyễn Thị H1; vợ Nguyễn Thị Phương H2 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 05/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (chấp hàng xong án phạt tù ngày 14/10/2017); ngày 08/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong án phạt tù ngày 25/7/2021); bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2023 cho đến nay có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn A, sinh năm: 1988; địa chỉ: Tiểu khu BM, thị trấn MS, huyện MS, tỉnh Sơn La; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, Nguyễn Thành T, sinh năm 1993, trú tại tiểu khu Bệnh viện, thị trấn NT, huyện MS, tỉnh Sơn La điều khiển xe ô tô ISUZU MUX, BKS 26A-064.39, vận chuyển 06 hộp pháo hoa nổ có tổng khối lượng 9,19kg theo hướng Hà Nội - Sơn La. Khi đi đến địa phận tiểu khu CĐ, thị trấn NT, huyện MS thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát Kinh tế - Công an tỉnh Sơn La phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ, gồm: 03 hộp hình trụ nhiều màu sắc, mặt trên hộp có in chữ nước ngoài, phần ngoài bên góc phải bên dưới có ghi số và chữ “49 Shots". Mặt dưới được bọc bằng giấy bóng màu nâu…;03 hộp hình trụ nhiều màu sắc, mặt trên hộp được bọc bằng giấy bóng màu vàng, mặt dưới hộp được bọc bằng giấy bóng màu nâu, xung quanh hộp in chữ nước ngoài, mặt trước có ghi số và chữ “36 Shots”; 01 xe ô tô nhãn hiệu ISUZU MUX, màu bạc mang BKS số 26A-064.39; 01 điện thoại di động loại cảm ứng, nhãn hiệu Vsmart Star 4, màu đen; cùng các giấy tờ cá nhân.
Ngày 06/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La ra Quyết định trưng cầu giám định số 02/QĐ-CSKT đối với 06 hộp chữ nhật nghi là Pháo nổ.
Kết luận giám định số 171/KL-KTHS ngày 07/01/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: “Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), tổng khối lượng pháo là 9,19kg và không phải do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hóa chất 21 – Bộ Quốc phòng sản xuất”. Toàn bộ số pháo đem đi giám định đã được Cơ quan giám định đốt thực nghiệm, tiêu hủy trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Thành T khai nhận hành vi phạm tội như sau:
Khoảng hơn 18 giờ ngày 06/01/2023, T đang đỗ ô tô mang BKS 26A-064.39, đón khách tại Ngã ba VH, huyện VH, tỉnh Sơn La thì được Thái Văn T1, sinh năm 1989, trú tại bản TT, xã ĐS, huyện MS, tỉnh Sơn La nhắn tin, gọi điện qua ứng dụng Messenger. Nội dung trao đổi về việc T mua và vận chuyển pháo về nhà T1, T sẽ được trả công là 500.000 đồng khi xong việc. Do muốn hưởng số tiền nêu trên, nên T đồng ý. Quá trình thỏa thuận, T1 chuyển nội bộ Ngân hàng MB Bank số tiền 2.700.000 đồng từ tài khoản số 002081989 mang tên THAI VAN T1 đến tài khoản số 0967.512.693 mang tên NGUYEN THANH T, nhắn số điện thoại 0367.301.894 của người bán để T tiến hành giao dịch mua pháo. Sau khi nhận tiền và các thông tin cần thiết, T rẽ vào quán tạp hóa tại Ngã ba VH nhờ chủ quán là bà Hoàng Thị Q, trú tại bản A, xã VH, huyện VH đổi tiền mặt. T chuyển cho bà Q số tiền 2.700.000 đồng vào tài khoản số 0396253919 tại Ngân hàng MB Bank của bà Q và nhận lại bằng tiền mặt. T không nói với bà Q mục đích của việc đổi tiền.
Khoảng 10 phút sau, T điều khiển xe ô tô đến khúc cua chữ S thuộc địa phận xã X, huyện VH. Khi đến nơi, T có thấy một người đàn ông đi xe máy đến đỗ sau xe ô tô (không rõ danh tính, nhận dạng). T ngồi trên xe và mở cửa phụ xe ra thì người đàn ông kia có đưa cho T một túi bóng màu đen để vào vị trí ghế phụ phía trước. T mở túi bóng ra kiểm tra có thấy 06 hộp pháo (03 hộp to, 03 hộp nhỏ) và đưa số tiền 2.700.000 đồng cho người đàn ông này. Khi đang di chuyển đến địa phận tiểu khu CĐ, thị trấn NT, huyện MS thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 42/Ctr-VKS-P3 ngày 17/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Nguyễn Thành T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm l khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị như sau:
Căn cứ điểm l khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/01/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo Nguyễn Thành T nhất trí với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 06/01/2023, Nguyễn Thành T đang có hành vi vận chuyển trái phép 06 hộp pháo hoa nổ có tổng khối lượng 9,19kg trên xe ô tô ISUZU MU-X màu bạc, mang biển kiểm soát 26A-064.39 theo hướng Hà Nội - Sơn La, với mục đích để được hưởng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền công, khi đi đến địa phận tiểu khu CĐ, thị trấn NT, huyện MS thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo được thể hiện bằng các căn cứ, như sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 30 phút ngày 06/01/2023 tại tiểu khu CĐ, thị trấn NT, huyện MS, tỉnh Sơn La đối với Nguyễn Thành T, cùng vật chứng thu giữ là 06 hộp pháo nổ + 01 xe ô tô mang BKS 26A-064.39 + 01 chiếc điện thoại di động, cùng các giấy tờ cá nhân khác.
- Biên bản mở miêm phong, xác định đối tượng giám định lập hồi 15 giờ 45 phút ngày 07/01/2023 tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an.
- Kết luận giám định số 171/KL-KTHS ngày 07/01/2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: “Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), tổng khối lượng pháo là 9,19kg và không phải do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Hóa chất 21 – Bộ Quốc phòng sản xuất”. Toàn bộ số pháo đem đi giám định đã được Cơ quan giám định đốt thực nhiệm, tiêu hủy trong quá trình giám định.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thành T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ những căn cứ chứng minh nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội Vận chuyển hàng cấm quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Nguyễn Thành T đã có hành vi vận chuyển trái phép 06 hộp pháo hoa nổ có tổng khối lượng 9,19kg, với mục đích để được hưởng 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền công, bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm l khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự, quy định thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm, thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tiền án, tiền sự: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích (ngày 05/7/2016, bị Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (chấp hàng xong án phạt tù ngày 14/10/2017); ngày 08/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh Sơn La xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong án phạt tù ngày 25/7/2021).
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo có ông nội là Nguyễn Z; bà nội Đỗ Thị L được Nhà nước tặng thưởng huận chương kháng chiến hạng nhất; là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý, sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán những loại hàng hóa mà Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường. Việc sản xuất, vận chuyển, tàng trữ, buôn bán pháo nổ đã gây ra rất nhiều tác hại nguy hiểm cho xã hội, là một trong những nguyên nhân gây ra các vụ tại nạn thương tâm, làm tổn hại đến sức khỏe, làm thiệt hại đến nền kinh tế; ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của pháo nổ, biết việc vận chuyển pháo là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lời mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để đảm bảo tính giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, bị cáo Nguyễn Thành T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng để thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về nguồn gốc vật chứng và các đối tượng liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc 06 hộp pháo hoa nổ có tổng khối lượng 9,19kg thu giữ trong vụ án, Nguyễn Thành T khai nhận do một người bạn tên T1 (không biết họ, tên đệm) sinh năm 1989, trú tại bản P, xã ĐS, huyện MS, tỉnh Sơn La thuê bị cáo vẫn chuyển và được thỏa thuận trả 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) tiền công. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, trong quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định người thuê bị cáo T vận chuyển pháo nổ là Thái Văn T1, sinh năm 1989, địa chỉ tại số nhà 66, bản TT, xã ĐS, huyện MS, tỉnh Sơn La quá trình xác minh T1 không có mặt tại địa phương, chưa xác định được đi đâu, làm gì, với các tài liệu hiện có trong hồ sơ, chưa đủ căn cứ xử lý đối với Thái Văn T1, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ. Do đó bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ số lượng pháo hoa nổbị thu giữ nêu trên.
Đối với xe ô tô con loại 7 chỗ ngồi mang nhãn hiệu ISUZU-MU-X màu bạc, mang biển kiểm soát 26A-064.39 và các giấy tờ có liên quan đến chiếc xe mang tên Vũ Văn A. Được xác định là xe của Vũ Văn A, sinh năm 1988, địa chỉ tại tiểu khu BM, thị trấn MS, huyện MS, tỉnh Sơn La là người đứng tên chủ sở hữu phương tiện. Bị cáo là người được anh A thuê lái xe, việc bị cáo vận chuyển 06 hộp pháo hoa nổ trên xe, anh A không biết và không được bị cáo trao đổi bàn bạc gì. Tại quá trình điều tra lời khai nhận của bị cáo và anh A hoàn toàn phù hợp với nhau. Do đó, xác định chủ phương tiện anh Vũ Văn A không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với số thuê bao “0367.301.894” qua tra cứu, Viettel Sơn La xác định số thuê bao trên đăng ký tên Vũ Xuân C, sinh ngày 08/7/1993; địa chỉ: Tiểu khu 6/1, xã D, huyện MC, tỉnh Sơn La; số căn cước công dân 014093007129; ngày kích Q 27/11/2022, hiện thuê bao còn hoạt động. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành xác minh đối với Vũ Xuân C nhưng C không có mặt tại địa phương, chưa xác định được Thành đi đâu, làm gì. Với các tài liệu có trong hồ sơ, chưa đủ căn cứ xem xét xử lý đối với C. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, làm rõ.
Đối với số thuê bao “0844.500.044” (viết dưới giấy hộp pháo): Qua tra cứu tại T tâm kinh doanh VNPT Sơn La xác nhận, số thuê bao trên đã bị hủy, không còn lưu trữ dữ liệu thuê bao và không còn tồn tại trên hệ thống quản lý khách hàng của Vinaphone, nên T tâm kinh doanh VNPT-Sơn La không tra cứu được thông tin khách hàng, không cung cấp được thông tin của thuê bao “0844.500.044”.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 06 hộp Pháo nổ (Pháo hoa nổ) có tổng khối lượng 9,19kg, trong quá trình xác định, cân tịnh, giám định cơ quan giám định đã đốt thực nghiệm, tiêu hủy toàn bộ khối lượng pháo hoa nổ trên.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART thu giữ của bị cáo, xét thấy bị cáo đã dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung công quỹ.
Đối với 01 chiếc xe ô tô, nhãn hiệu ISUZU MU-X màu bạc, loại xe con 7 chỗ ngồi, xe có biển kiểm soát 26A-064.39 xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Vũ Văn A, anh A không biết sự việc bị cáo dùng tài sản để thực hiện hành vi phạm tội, do đó nên cần trả lại cho anh Vũ Văn A.
Đối với 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26 002701 chủ xe mang tên Vũ Văn A, xét thấy cần trả lại ngay tại phiên tòa cho anh Vũ Văn A.
Đối với 01 căn cước công dân số 014093010055 mang tên Nguyễn Thành T và 01 giấy phép lái xe số 310186038552 mang tên Nguyễn Thành T, xét thấy là giấy tờ cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại ngay tại phiên tòa cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm l khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ, tạm giam ngày 07/01/2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu sung quỹ nhà nước:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VSMART vỏ màu đen (màn hình cảm ứng), kiểu máy Star 4, số imei (khe cắm sim 1) 355123113530217, (khe cắm sim 2) 355123113530225; mặt sau có ghi dòng chữ “VSMART”; điện thoại đã qua sử dụng.
2.2. Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Vũ Văn A:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu, ISUZU số loại MU-X màu bạc, loại xe con 7 chỗ ngồi, xe có BKS 26A-064.39, xe có 02 gương chiếu hậu, có 01 lốp dự phòng và 01 chìa khóa xe, cạnh sườn gần đèn xe phía trước bên phải bị rạn, sước và bong, trên thân xe cạnh 02 cửa ra và phía trên có dán nhãn của hãng xe taxi và có ghi dòng chữa “Taxi Z”; CTTNHH E, TAXI Z 02123.566.566, xe đã qua sử dụng.
- 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EA 0112776, đăng kiểm ngày 17/01/2022 (bản gốc); 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 26 002701 chủ xe mang tên Vũ Văn An, cấp ngày 07/9/2021 bản gốc (đã trả).
2.3. Trả lại ngay cho bị cáo Nguyễn Thành T: 01 Giấy phép lái xe số 310186038552 mang tên Nguyễn Thành T, cấp ngày 26/10/2018; 01 Căn cước công dân số 014093010055 mang tên Nguyễn Thành T, cấp ngày 05/7/2022 (đã trả).
3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/5/2023)./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát ND Cấp cao tại Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La; - Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Bị cáo; Người có quyền lợi NVLQ; - Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tòng Thị Hiền |