vanban.org

Bản án 72/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 20/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về điều luật áp dụng:

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14. 2/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đình N phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn ĐÌnh Nhất - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về điều luật áp dụng:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
---------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:72/2023/HSST
Ngày 20 tháng 4 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

- Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Công Tráng – Bà Nguyễn Thị Tiến.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Đinh Thị Hường – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hà Đông

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh – Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 20/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dận quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:45/2023 ngày 04 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình N, sinh năm 1974. Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Số 76, đường Nguyễn Trực, Tổ 7, phường Phú Lãm, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Bố đẻ: Nguyễn Đình M, sinh năm 1949, mẹ đẻ Nguyễn Thị M, sinh năm 1957. Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1978. Có 03 con: con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Danh chỉ bản số 96 lập ngày 18/01/2023 tại Công an quận Hà Đông; Bị cáo ra đầu thú ngày 30/12/2022; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người bị hại: Anh Bùi Sỹ N, sinh năm 1970 (0396292486). Địa chỉ: Số 87, Nguyễn Trực, Tổ 10, phường Phú Lương, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Xuất phát từ việc gia đình anh Bùi Sỹ N sinh năm: 1970, HKTT: tổ 10, phường Phú Lương, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội làm nghề sửa chữa và mua bán loa đài thường xuyên bật loa to làm ảnh hưởng tới sinh hoạt của gia đình Nguyễn Đình N ( Sinh năm: 1974, trú tại: số 76 tổ 7, phường Phú Lãm, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội) nên N nảy sinh ý định dùng ba chạc gỗ buộc dây cao su và bi sắt bắn vào loa, đài nhà anh N. Ngày 08/12/2022, khi N đang làm gò hàn tại nhà thì thấy có nhóm trẻ con (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đi qua và có cầm ba chạc gỗ buộc dây cao su. Thấy vậy, N có xin một ba chạc gỗ. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/12/2022, N đang đứng ở cửa nhà thì nhìn thấy vợ chồng anh N đóng cửa đi ra khỏi nhà lúc này N lấy ba chạc gỗ buộc dây cao su ra và 02 viên bi sắt (bi sắt có đường kính 0,8 cm) trong xưởng cơ khí nhà mình. Sau đó, đi ra đứng núp ở sau cửa nhà và dùng ba chạc gỗ buộc dây cao su bắn 02 viên bi sắt nhắm vào biển quảng cáo nhà anh N làm thủng biển quảng cáo và cửa kính trên tầng 2 nhà anh N. Sau khi bắn xong N đã vứt ba chạc gỗ buộc dây cao su vào sọt rác. Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Ngày 14/12/2022, anh Bùi Sỹ N đến Cơ quan Công an trình báo sự việc như đã nêu trên. Quá trình làm việc tại Cơ quan Công an, Nguyễn Đình N đã xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Ngày 23/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông đã có Yêu cầu định giá tài sản số 10. Tại Bản kết luận định giá số 266/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS của UBND quận Hà Đông kết luận: “Giá tài sản 01 (một) tấm kính cường lực kích thước (2,2 x 2,6)m dày 1,2 cm (cũ đã qua sử dụng) là 4.290.000 đồng”.

Ngày 06/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông đã có Yêu cầu định giá tài sản số 16. Tại Bản kết luận định giá số 03/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS của UBND quận Hà Đông kết luận: “Giá tài sản 01 (một) biển quảng cáo làm bằng vải bạt kích thước (2,2 x 2,6)m, đã qua sử dụng có là 100.000 đồng”.

Ngày 28/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông ra Quyết định trưng cầu giám định số 137. Tại Bản kết luận giám định số 1271/KL-KTHS ngày 09/3/2023 kết luận “02 đồ vật hình dạng bi tròn bằng kim loại gửi đi giám định không phải đạn quân dụng, đạn súng săn, đạn thể thao, đạn súng hơi”.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 03/01/2023, Nguyễn Đình N bồi thường cho anh Bùi Sỹ N số tiền 5.000.000 đồng, sau khi nhận tiền anh N không yêu cầu bồi thường gì khác .

Vật chứng thu giữ : 02 (hai) viên bi sắt, mỗi viên có đường kính kích thước 0,8 cm.

Cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 27/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy Nguyễn Dình N về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng đã nêu và điều luật đã viện dẫn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 178; Điểm b,i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo: Nguyễn Đình N từ 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 02 (hai) viên bi sắt, mỗi viên có đường kính kích thước 0,8 cm là vật không có giá trị sử dụng.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì thêm. Chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xét xử theo quy định của pháp luật, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

: Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động: “Điều tra”, “Truy tố” đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để bị cáo và người tham gia tố tụng khác thực hiện đủ, đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ.

Về nội dung:

2.1. Xem xét lời khai của bị cáo, đánh giá hành vi của bị cáo, đối chiếu với quy kết tại Cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 27/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên:

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; Biên bản thu giữ tang vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 09/12/2022, tại số 76 đường Nguyễn Trực, Tổ 7, phường Phú Lãm, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, Nguyễn Đình N có hành vi dùng ba chạc gỗ buộc dây cao su bắn bi sắt làm hư hỏng một tấm kính cường lực kích thước (2,2x2,6) m dày 1,2 cm và một biển quảng cáo làm bằng vải kích thước (2,2x2,6) m của nhà anh Bùi Sỹ N có tổng giá trị là 4.390.000 đồng.

Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự có đủ cơ sở pháp luật quy kết bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Đình N theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

2.2. Đánh giá tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo.

2.2.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có.

2.2.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, bị cáo ra đầu thú. Bố của bị cáo là thương binh ¾, tỷ lệ 41% là người có công với cách mạng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

2.3. Đánh giá vai trò, mức độ, tính nguy hiểm cho xã hội của bị cáo, xem xét mức hình phạt, loại hình phạt cần áp dụng đối với bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Không những gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân chính làm phát sinh tội phạm khác. Do vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo cho bị cáo được hưởng mức hình phạt khác không phải là hình phạt tù tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo trở thành người tốt.

2.4. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Bùi Sỹ N đã nhận bồi thường thiệt hai và không có ý kiến gì về phần bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xét.

2.5. Vật chứng của vụ án: Đối với 02 (hai) viên bi sắt, mỗi viên có đường kính kích thước 0,8 cm là vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1/ Về điều luật áp dụng:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự.

Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

2/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đình N phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

3/ Về mức hình phạt: Xử phạt Nguyễn Đình N : 10 (Mười) triệu đồng. Bị cáo phải nộp tiền một lần cho cơ quan Thi hành án quận Hà Đông, thành phố Hà Nội trong thời hạn 05 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

4/ Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) viên bi sắt, mỗi viên có đường kính kích thước 0,8 cm.

(Có tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông lập ngày 04 tháng 4 năm 2023).

5/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình N phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ