vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 12/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thành L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/3/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 587 của Bộ luật dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thành L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày 12-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Minh Yên

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Mai Thị Hiền

2.Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Đỗ Thành L, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 24 tháng 7 năm 1988 tại: V, Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ F, phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Quang D và bà Vũ Thị N; bị cáo có vợ là Thào Thị S (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại Bản án số 06/2011/HSST ngày 10/5/2011 của Toà án nhân dân huyện Mường Khương tuyên phạt Đỗ Thành L 05 tháng 08 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 10/2016/HSST ngày 19/01/2016 Toà án nhân dân thành phố Lào Cai bị tuyên phạt Đỗ Thành L 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ từ ngày 18/3/2023, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L. Có mặt.

Người bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị T, Sinh năm: 1995, nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn Đ, Sinh năm: 1975, nơi cư trú: Thôn N, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

3. Anh Hoàng Văn C, Sinh năm 1991, nơi cư trú: Tổ E, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1958, nơi cư trú: Tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+Anh Kim Đình T1, sinh năm 1986, địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

+Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990, địa chỉ: Tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

+Chị Đào Thị N1, sinh năm 1992, Địa chỉ: Tổ F, phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai.Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 11/3/2023 đến ngày 18/3/2023, Đỗ Thành L đã thực hiện 05 (năm) vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố L, cụ thể như sau:

* Vụ thứ nhất: Khoảng 01 giờ ngày 11/03/2023, Đỗ Thành L đi một mình từ nhà tại tổ F phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai đến khu vực phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai với mục đích tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến khu vực chợ P tại tổ D, phường P, thành phố L, Đỗ Thành L trèo qua rào sắt vào bên trong khuôn viên chợ. Khi Đỗ Thành L đi trong khuôn viên chợ thì phát hiện kiot bán gà của chị Nguyễn Thị T có để nhiều lồng sắt hình chữ nhật, bên trong lồng sắt nhốt nhiều con gà. Thấy lồng gà được khóa bằng chiếc ổ khóa Việt Tiệp, Đỗ Thành L đã nhặt gần đó một thanh kim loại rồi luồn thanh kim loại qua giữa hai móc khóa, dùng lực xoay thanh kim loại thì móc khóa bung ra khỏi ổ khóa. Sau đó, Đỗ Thành L mở lồng gà ra rồi dùng hai tay bắt lấy 04 (bốn) con gà, loại gà trống, có tổng trọng lượng 08 (tám) kg cho vào trong một chiếc bao tải. Sau đó Luật trèo qua hàng rào chợ, mang số gà đó bán cho một quán phở (Đỗ Thành L không nhớ rõ địa chỉ) được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Sau khi bán gà, Đỗ Thành L đã đến khu vực cầu L, xã C, thành phố L mua ma tuý của một người nam giới (Luật không biết tên tuổi, địa chỉ) và sử dụng hết.

* Vụ thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 13/3/2023, Đỗ Thành L đi lang thang một mình ở khu vực gác ghi chắn tàu tại ngã ba B, thuộc tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì phát hiện chiếc xe mô tô mang Biển kiểm soát: 88F5-7032, nhãn hiệu JIULONG, màu xanh đang dựng bằng chân chống phụ, đầu xe hướng vào gốc cây, đuôi xe quay ra hướng đường sắt, vẫn đang cắm chìa khóa ở ổ khóa. Quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi xe, Đỗ Thành L tiến tới ngồi lên xe và chạy đi. Sau khi trộm cắp được chiếc xe, Đỗ Thành L đem đến cửa hàng sắt vụn của hai vợ chồng anh Kim Đình T1 và chị Nguyễn Thị H. Tại đây, Đỗ Thành L có nói với anh T1 và chị H là xe đi trong công trường, do không còn sử dụng nên bán. Sau khi thỏa thuận thì Đỗ Thành L bán chiếc xe cho anh T1 và chị H được 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng). Số tiền này Đỗ Thành L đã mua ma tuý sử dụng hết.

* Vụ thứ ba: Khoảng 14 giờ ngày 14/03/2023, Đỗ Thành L đi lang thang quanh khu vực sân bóng Cam Đường thuộc phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai thì phát hiện trước cửa số nhà B, đường V thuộc tổ E, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai có để chiếc xe mô tô mang Biển kiểm soát: 31702-U6, nhãn hiệu HONDA Super Cup, màu xanh đang dựng bằng chân chống phụ, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe quay ra đường, xe vẫn đang cắm chìa khóa ở ổ khóa. Quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi, Đỗ Thành L tiến tới ngồi lên xe và chạy đi. Sau khi trộm cắp được chiếc xe Đỗ Thành L đem xe đến cửa hàng sắt vụn của anh Kim Đình T1 và chị Nguyễn Thị H. Tại đây Đỗ Thành L có nói với anh T1 và chị H là xe đi trong công trường, do không còn sử dụng nên bán, sau khi thỏa thuận thì Đỗ Thành L bán chiếc xe cho anh T1 được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Số tiền này Đỗ Thành L đã mua ma tuý sử dụng hết.

* Vụ thứ tư: Khoảng 10 giờ ngày 15/3/2023, Đỗ Thành L đi bộ một mình đến đường H. Khi đi đến trước cửa số nhà D, đường H thuộc tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, Đỗ Thành L phát hiện thấy xe mô tô mang Biển kiểm soát: 24K6-1127, nhãn hiệu ANGEL, màu xanh, đầu xe hướng vào trong nhà, đuôi xe hướng ra đường, đang dựng bằng chân chống phụ và không cắm chìa khoá. Quan sát xung quanh thấy không có ai và chiếc xe đã cũ nên Đỗ Thành L tiến tới dùng chùm chìa khóa xe gồm có 08 (tám) chiếc của mình, rồi lấy 01 (một) chiếc chìa khoá trong số đó cắm thử vào ổ khoá, thấy mở được nguồn điện của xe, Đỗ Thành L liền ngồi lên xe và chạy đi. Sau khi trộm cắp được chiếc xe Đỗ Thành L đem xe đến cửa hàng sắt vụn của anh Kim Đình T1 và chị Nguyễn Thị H. Tại đây Đỗ Thành L có nói với anh T1 và chị H là xe đi trong công trường, do không còn sử dụng nên bán, sau khi thỏa thuận thì Đỗ Thành L bán chiếc xe cho anh T1 được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng). Số tiền này Đỗ Thành L đã mua ma tuý sử dụng hết.

* Vụ thứ năm: Khoảng 23 giờ ngày 17/3/2023, Đỗ Thành L hỏi mượn chị Đào Thị N1 chiếc xe đạp nhãn hiệu WAHAMA, màu xanh. Sau đó Đỗ Thành L đi một mình từ nhà đến khu vực phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai với mục đích đi trộm cắp tài sản. Khoảng 00 giờ ngày 18/3/2023, khi đến khu vực chợ P, Đỗ Thành L để xe đạp bên ngoài hành lang của chợ, dùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Smobile của mình để chiếu sáng rồi trèo qua tường rào vào bên trong chợ, lúc này Đỗ Thành L nhặt được một thanh sắt hình vuông dài 30 cm, rộng 0,8 cm ở gần Kiot bán gà của chị Nguyễn Thị T mà Luật đã trộm cắp 04 con gà vào ngày 11/3/2023. Thấy kiot của chị T đặt nhiều lồng sắt nhốt gà và được khoá bằng ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp, Đỗ Thành L tiến lại gần, dùng thanh kim loại luồn qua giữa hai móc khoá ở ổ khoá rồi xoay thanh kim loại thì móc khóa bung ra khỏi ổ khoá. Sau đó, Đỗ Thành L vứt lại ổ khoá và thanh sắt ở tại vị trí lồng nhốt gà, rồi dùng hai tay bắt lấy hai con gà, loại gà trống, có tổng trọng lượng 07 (bảy) kg cho vào bao tải, khi Đỗ Thành L trèo qua hàng rào đem 02 (hai) con gà ra ngoài thì bị tổ công tác công an phường P đang đi tuần tra phát hiện và đưa về trụ sở làm việc. Tại Công an phường P, Đỗ Thành L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân. Tổ công tác đã tiến hành tạm giữ của Đỗ Thành L: 02 (hai) con gà, loại gà trống, có tổng trọng lượng 07 kg; 01 (một) xe đạp màu xanh, nhãn hiệu WAHAMA; 01 (một) điện thoại Smobile, màu đen; 01 (một) chùm chìa khoá xe máy gồm 08 (tám) chiếc.

Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 22/3/2023 của Hội đồng định giá thành phố L kết luận:

- 01 (một) chiếc xe mô tô mang Biển kiểm soát: 24K6-1127, nhãn hiệu ANGEL, màu xanh, số máy: 2301375, số khung: 301375. Xe cũ, đã qua sử dụng, nhiều chỗ nứt vỡ. Giá trị tài sản là 2.100.000 đồng.

- 01 (chiếc) xe mô tô mang Biển kiểm soát: 88F5-7032, nhãn hiệu JIULONG, màu xanh, số máy: 01185593, số khung: 014993. Xe cũ, đã qua sử dụng, nhiều chỗ nứt vỡ. Giá trị tài sản là 1.200.000 đồng.

- 01 (chiếc) xe mô tô mang Biển kiểm soát: 31702-U6, nhãn hiệu HONDA Super Cup, màu xanh, số máy: 2606983, số khung: 705506940. Xe cũ, đã qua sử dụng, nhiều chỗ nứt vỡ. Giá trị tài sản là 1.333.000 đồng.

- 02 (hai) con gà có tổng trọng lượng 07 kg. Giá trị tài sản là: 957.000 đồng.

- 04 (bốn) con gà có tổng trọng lượng 08 kg. Giá trị tài sản là: 1.093.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 6.683.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố Đỗ Thành L về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xác nhận đã được thông báo kết luận định giá tài sản, biết tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 6.683.000 đồng và không có ý kiến đề nghị gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Đỗ Thành L mức án từ 06 tháng đến 01 năm tù. Tuyên án phí, quyền kháng cáo cho bị cáo, người bị hại theo quy định của pháp luật.

Người bị hại ông Nguyễn Văn L1, anh Nguyễn Văn Đ, Anh Hoàng Văn C, chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ông Nguyễn Văn L1, anh Hoàng Văn C, anh Nguyễn Văn Đ đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu đề nghị về phần dân sự và đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.

Người bị hại chị Nguyễn Thị T vắng mặt, tuy nhiên tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện chị T có yêu cầu Tòa án buộc bị cáo Đỗ Thành L có trách nhiệm bồi thường cho chị số tiền tương ứng với giá trị 04 con gà mà bị cáo đã trộm cắp của chị vào ngày 11/3/2023 theo kết quả định giá của Hội đồng định giá 1.093.000 đồng và đề nghị xử lý hình sự theo quy định.

Người liên quan anh Kim Đình T1 và chị Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt chị H và anh T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Lời nói sau cùng của bị cáo, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào cai, tỉnh Lào Cai đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó về trình tự, thủ tục điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, từ đó có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Đỗ Thành L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe, hiểu biết pháp luật. Mặc dù biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng từ ngày 11/3/2023 đến ngày 18/3/2023 bị cáo đã 05 (năm) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn Đ, Hoàng Văn C, Nguyễn Thị T gồm các tài sản: 01 (một) chiếc xe mô tô mang Biển kiểm soát: 24K6-1127, nhãn hiệu ANGEL, màu xanh; 01 (chiếc) xe mô tô mang Biển kiểm soát: 88F5-7032, nhãn hiệu JIULONG, màu xanh; 01 (chiếc) xe mô tô mang Biển kiểm soát: 31702-U6, nhãn hiệu HONDA Super Cup, màu xanh; 02 (hai) con gà, có tổng trọng lượng 07 kg; 04 (bốn) con gà có tổng trọng lượng 08 kg. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 6.683.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng). Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng, lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Với tổng trị giá tài sản trộm cắp được là 6.683.000 đồng, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa bị cáo xác định bị cáo đi làm thuê, không lấy việc trộm cắp tài sản làm nghề để kiếm sống, tuy nhiên do bị cáo nghiện ma túy nên thỉnh thoảng không có tiền sẽ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng. Mặc dù số tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn, cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại phần lớn các tài sản cho người bị hại, nhưng việc bị cáo thực hiện hành vi nhiều lần gây mất trật tự trị an trên địa bàn và tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời nhằm mục đích tuyên truyền, giáo dục pháp luật tại địa phương. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là một tình tiết để xem xét khi định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không

- Tình tiết giảm nhẹ: Với giá trị tài sản bị trộm cắp là 6.683.000 đồng, cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả cho người bị hại, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 chiếc xe máy, 02 con gà có trọng lượng 07 kg. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho người bị hại. Các ông Nguyễn Văn L1, anh Hoàng Văn C, anh Nguyễn Văn Đ đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

-01 chiếc xe đạp nhãn hiệu WAHAMA, màu xanh của chị Đào Thị N1, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N1, chị N1 không có ý kiến gì là phù hợp.

Đối với các vật chứng còn lại của vụ án: 01 điện thoại Smobile màu đen thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên bị cáo còn phải thi hành trách nhiệm dân sự và án phí nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 chùm chìa khóa xe máy gồm 08 chiếc và 01 đoạn sắt hình trụ vuông có chiều dài 30 cm, rộng 0,8cm là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi chị Nguyễn Thị T đã nhận lại 02 con gà trộm cắp ngày 18/3/2023, quá trình điều tra chị T còn yêu cầu bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị giá trị 04 con gà bị cáo đã trộm của chị vào ngày 11/3/2023 trị giá 1.093.000 đồng theo kết luận định giá tài sản ngày 22/3/2023. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản, đối với yêu cầu của chị T bị cáo không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa bị cáo nhất trí với kết luận định giá tài sản về số tài sản bị cáo trộm cắp ngày 11/3/2023 là 04 con gà của chị T, việc chị T yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản là 04 con gà theo kết luận định giá là có căn cứ, Do đó cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị T số tiền 1.093.000 đồng (Một triệu không trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Về các vấn đề khác:

Đối với chị Đào Thị N1 cho bị cáo mượn chiếc xe đạp để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, Chị N1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với quán phở mà Đỗ Thành L bán 04 (bốn) con gà ngày 11/3/2023, do Đỗ Thành L không xác định được vị trí quán phở nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý, khi nào xác minh, làm rõ được sẽ đề cập xử lý sau.

Đối với người nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đã bán ma túy cho Đỗ Thành L tại khu vực cầu L, xã C, thành phố L, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu nào khác để chứng minh. Do vậy, không điều tra làm rõ được, khi nào xác minh, làm rõ được sẽ xử lý sau.

Đối với anh Kim Đình T1 và chị Nguyễn Thị H là chủ cửa hàng mua bán sắt vụn tại địa chỉ tổ A, phường P, thành phố L, đã mua 03 (ba) chiếc xe mô tô mà Đỗ Thành L đã trộm cắp. Quá trình điều tra xác định anh T1 và chị H không biết 03 (ba) chiếc xe mô tô do Đỗ Thành L bán là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không đề cập xử lý là phù hợp. Về phần dân sự: Anh T1 và chị H đề nghị xử lý Đỗ Thành L theo quy định và yêu cầu Đỗ Thành L phải bồi thường thiệt hại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) mà anh chị đã bỏ ra để mua 03 (ba) chiếc xe mô tô của Đỗ Thành L. Tại đơn xin xét xử vắng mặt anh T1 và chị H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền đã bỏ ra mua tài sản và cho bị cáo, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo đã được giải thích và không có ý kiến gì đối với việc công khai bản án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án. Bản án có hiệu lực pháp luật sẽ được công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao theo quy định.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Thành L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thành L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thành L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 18/3/2023.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 587 của Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Đỗ Thành L phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 1.093.000 đồng (một triệu không trăm chín mươi ba nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự,

Tịch thu tiêu hủy: 01 chùm chìa khóa xe máy gồm 08 chiếc và 01 đoạn sắt hình trụ vuông có chiều dài 30 cm, rộng 0,8cm.

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 01 điện thoại Smobile màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2023)

4.Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Đỗ Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người bị hại ông Nguyễn Văn L1 anh Hoàng Văn C, anh Nguyễn Văn Đ, chị Nguyễn Thị T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ