vanban.org

Bản án 72/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An Tuyên án 12/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 11/8/2023). Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn Đ "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HS-ST
Ngày: 12 - 12 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Trung.

Ông Phạm Hoàng Anh Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức

Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia

phiên tòa: Ông Lê Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử

sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10

năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 27

tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Võ Văn Đ, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1982, tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Ấp

B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12;

dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ

Văn S (chết) và bà Huỳnh Thị B; có vợ là Lê Thị N, sinh năm 1983 và có 02 con

chung; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023

cho đến nay. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Võ Thị N1 - Sinh năm 1974 - Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện Đ,

tỉnh Long An. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Tấn P -

Sinh năm 1960 - Địa chỉ: 1 đường V, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 09/8/2023, Võ Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số

51S2-6611 đi từ thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đến Campuchia để đánh bạc, khi đi đến đường TL839 đoạn đường gần nghĩa trang huyện Đ, Được đang điều khiển xe thì nhìn thấy trong sân nhà của bà Võ Thị N1 có một cây mai hình dáng đẹp nên Đ nảy sinh ý định lấy trộm đem về nhà trồng. Được không thực hiện liền mà tiếp tục điều khiển xe đi đến Tho Mo thuộc xã M, huyện Đ, sau đó sang Campuchia để đánh bạc. Đến khoảng 00 giờ ngày 10/8/2023, Được nghỉ đánh bạc và điều khiển xe đi về, khi về đến nhà bà N1 thuộc ấp C, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, Được dừng xe lại trên đường tỉnh lộ 839 và đi bộ vào nhà bà N1 đến chổ cây mai được trồng trong chậu, xây dựng bằng gạch dưới đất, Đ dùng tay lắt cây mai cho lỏng gốc và dùng hai tay nhổ cây mai lên khỏi mặt đất trong chậu, Đ đem cây mai ra xe, dùng bao nilon quấn quanh gốc mai và sử dụng dây ràng buột vào yên xe để chở về nhà. Khi Được chở cây mai vừa trộm được đi đến đoạn đường ngã 3 thuộc ấp A, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an phát hiện kiểm tra và mời về trụ sở Công an làm rõ. Qua quá trình làm việc, Được đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng tạm giữ gồm:

- 01 cây mai vàng, cao 116 cm, chu vi nơi lớn nhất thân cây mai là 57cm

(phần góc cây), chu vi nơi nhỏ nhất thân cây mai là 17cm (phần ngọn).

- 01 xe mô tô nhãn hiệu honda loại Future, màu sơn đỏ, biển số 51S2-6611,

số máy JA02E-0279815, số khung 02001Y279774.

- 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-TCKH ngày 14/8/2023 của Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, xác định tại thời điểm định giá: cây mai vàng cao 116 cm, chu vi nơi lớn nhất thân cây mai là 57cm (phần góc cây), chu vi nơi nhỏ nhất thân cây mai là 17cm có giá trị là 10.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng: 01 cây mai vàng, cao 116 cm, chu vi nơi lớn nhất thân cây

mai là 57cm (phần góc cây), chu vi nơi nhỏ nhất thân cây mai là 17cm (phần ngọn). Đây là tài sản hợp pháp của bà Võ Thị N1, Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện Đ đã trả lại cho bà N1 theo quyết định xử lý vật chứng số 28/QĐ-ĐTTH ngày 20 tháng 8 năm 2023. Sau khi nhận lại tài sản, bà N1 không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Cáo trạng số: 58/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát

nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Võ Văn Được về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ nguyên cáo trạng

đã truy tố đối với bị cáo, sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra,

đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32;

Điều 38 Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn Đ từ 06 đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố

tụng Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét

lại nên không xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda loại Future, màu sơn đỏ, biển số

51S2-6611, số máy JA02E-0279815, số khung 02001Y279774, bị cáo khai nhận

mua của Nguyễn Tấn P sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên, qua làm việc ông

P không yêu cầu nhận lại, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm

tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám xác định là tài sản của bị

cáo không liên quan đến tội phạm đề nghị trả lại cho bị cáo sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự :

- Người bị hại: Bà Võ Thị N1 tại phiên tòa và trong lời khai trình bày: Bà đã

nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp theo. Bà N1 yêu cầu giảm nhẹ

hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn P vắng mặt tại

phiên tòa trong lời khai trình bày: Ông không yêu cầu nhận lại tài sản xe mô tô

nhãn hiệu Honda loại Future, màu sơn đỏ, biển số 51S2-6611, vì ông đã bán cho bị

cáo xong.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: bị cáo biết

việc làm sai trái, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng, những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều

tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã

thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng

Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại

về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,

quyết định tố tụng, những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thu thập của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Khoảng 00 giờ, ngày 10/8/2023, tại nhà bà Võ Thị N1 thuộc ấp C, xã M,

huyện Đ, tỉnh Long An, Võ Văn Đ lén lút lấy trộm một 01 cây mai vàng, cao 116 cm, chu vi nơi lớn nhất thân cây mai là 57cm, chu vi nơi nhỏ nhất thân cây mai là 17cm của bà Võ Thị N1. Qua định giá, cây mai có giá trị là 10.000.000 đồng. Trên đường bị cáo Đ vận chuyển cây mai đi về nhà thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.

Tại phiên toà, bị cáo Võ Văn Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản vụ việc lúc 01 giờ 30 phút, ngày 10/8/2023 của Công an xã B, huyện Đ, sơ đồ hiện trường xảy ra vụ việc, bản ảnh hiện trường (02 ảnh) do Công an huyện Đ lập, kết luận định giá tài sản số 22/KL-TCKH ngày 14/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ kết luận: 01 cây mai vàng, cao 116 cm, chu vi nơi lớn nhất thân cây mai là 57cm, chu vi nơi nhỏ nhất thân cây mai là 17cm, có giá trị là 10.000.000 đồng, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Võ Văn Đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, cáo trạng 58/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Võ Văn Đ với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Võ Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là một

công dân có đầy đủ lý trí để nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của mọi tổ chức và cá nhân được pháp luật bảo vệ. Nếu người nào cố tình chiếm đoạt sẽ bị pháp luật xử lý nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của bị cáo là chiếm đoạt tài sản của bị hại để đem về nhà sử dụng. Hành vi này của bị cáo phải được xử lý nghiêm. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

Xét thấy, bị cáo Võ Văn Đ khi xét xử thật thà khai báo, phạm tội lần đầu

và trường hợp ít nghiêm trọng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, tài sản đã thu hồi và trả lại cho bị hại, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo

Võ Văn Đ là có cơ sở theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Bà Võ Thị N1 tại phiên tòa, ông Nguyễn Tấn P vắng mặt tại phiên tòa trong

lời khai không có yêu cầu bị cáo Võ Văn Đ bồi thường tiếp theo. Do không yêu cầu

nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ tách ra

giải quyết bằng một vụ án khác.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật

Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên

không đề cập xem xét.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu honda loại Future, màu sơn đỏ, biển số

51S2-6611, số máy JA02E-0279815, số khung 02001Y279774, bị cáo khai nhận

mua của ông Nguyễn Tấn P sử dụng nhưng chưa làm thủ tục sang tên, qua làm việc

ông P không yêu cầu nhận lại, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi

phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách.

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám, xác định là tài sản của bị

cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo sử dụng.

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Bị cáo Võ Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Võ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32;

Điều 38 Bộ luật Hình sự; Các Điều 299, 326, 327 và 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Võ Văn Đ 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt

tạm giữ, tạm giam (ngày 11/8/2023). Tiếp tục quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày

kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình

sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại

Future, màu sơn đỏ, biển số 51S2-6611, số máy JA02E-0279815, số khung

02001Y279774.

- Trả lại cho bị cáo Võ Văn Đ: 01 điện thoại di động Iphone 6 màu xám.

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời

hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Cỡ chữ