- Tranh chấp gì? án hình sự — "Xâm phạm mồ mã - phạm tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt (điều 319 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG ––––––––––––––– Bản án số: 72/2023/HS-ST Ngày : 14 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Kiều;
2. Bà Mai Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Hồ Minh T, sinh năm 1996, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; con ông Hồ Minh Q (đã chết) và bà Trần Thị Kim T1, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ con.
+ Tiền án: Không.
+ Tiền sự: Ngày 19/6/2023 bị Công an xã B, huyện C, tỉnh An Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong.
+ Bị cáo đang chấp hành Quyết định số 18/QĐ-TA ngày 21/7/2023 về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang, thời hạn 15 tháng kể từ ngày 23/6/2023 và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hồ Minh C, sinh năm 1964; (có mặt)
+ Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1964;
+ Chị Hà Thị T2, sinh năm 1992;
Cùng nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền của bà C1, chị T2: ông Hồ Minh C, sinh năm 1964; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. (theo giấy ủy quyền ngày 11/10/2023) (có mặt)
- Người làm chứng:
+ Anh Hồ Minh H, sinh năm 1985; (vắng mặt)
+ Ông Lê Duy L, sinh năm 1976; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ việc tranh chấp đất đai giữa gia đình của Hồ Minh T với gia đình bác ruột của T tên Hồ Minh C. Khoảng 06 giờ ngày 22/6/2023, T lấy viên đá có kích thước (10,5 x 16,5)cm phía trước nhà của T rồi lấy áo sơ mi tay dài quấn viên đá lại cầm trên tay, sau đó đi ra ngôi mộ của Hồ Minh K (là con của C) thuộc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Tứ đứng trên mộ của K đập nhiều cái, làm vỡ gạch ở mặt trên kích thước (49 x 20)cm, mặt trước kích thước (24,5 x 7)cm, mặt trước phía trong của bia mộ kích thước (26 x 9)cm, vỡ một lọ cắm hoa, một bát hương và hai chân nến đặt phía trước mộ. Sau đó, C trình báo sự việc đến Công an xã B.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 viên đá có kích thước (10,5 x 16,5)cm.
- 01 áo sơ mi dài tay nền trắng có hình hoa văn màu nâu đen, vùng lưng có nhiều vết rách nham nhở nằm rải rác.
Ngày 07/9/2023, Hồ Minh T bị khởi tố và điều tra.
* Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Minh C trình bày: Chải là cha ruột của K, việc T đập phá ngôi mộ của K đã xâm phạm, ảnh hưởng đến đời sống tâm linh, tổn thất đến tinh thần của người thân trong gia đình của C. Ông yêu cầu xử lý hành vi của T, không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.
- Bà Nguyễn Thị C1, chị Hà Thị T2 trình bày: Cúc là mẹ ruột của K, T2 là vợ của K. C1 và T2 ủy quyền lại cho C đại diện giải quyết vụ việc Tứ đập phá mồ mả của K.
* Lời khai của những người làm chứng anh Hồ Minh H, ông Lê Duy L trình bày phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.
Quá trình điều tra, bị cáo Hồ Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSCT-HS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Hồ Minh Tứ về tội “Xâm phạm mồ mả” theo khoản 1 Điều 319 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo T thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Minh C – cũng là đại diện theo ủy quyền của bà C1, chị T2 trình bày: ông là cha ruột của K, việc T đập phá ngôi mộ của K đã xâm phạm, ảnh hưởng đến đời sống tâm linh, tổn thất đến tinh thần của người thân trong gia đình ông. Ông và gia đình không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự, gia đình sẽ tự sửa chữa mộ của K vào dịp thanh minh tới, tuy nhiên nếu gia đình của T có hỗ trợ thì gia đình ông sẽ nhận. Tại phiên tòa hôm nay, ông xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Người làm chứng ông Lê Duy L trình bày: Ông không có mối quan hệ họ hàng cũng như không có mâu thuẫn gì với bị cáo và ông C. Khoảng 06 giờ ngày 22/6/2023, ông đang lo đám tang cho mẹ ông thì nghe tiếng động phát ra từ bên ngoài, khi ông bước ra xem thì nhìn thấy T trên tay cầm áo sơ mi có quấn một vật gì bên trong ông không rõ đập phá nhiều cái vào ngôi mộ của K, thiệt hại như thế nào thì ông không biết, sau khi đập phá xong thì T bỏ đi. Sau đó ông quay vào trong tiếp tục lo đám tang cho mẹ ông.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm mồ mả” theo quy định tại khoản 1 Điều 319 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 319, điểm i, s khoản 1, khoản
2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm
2017 xử phạt bị cáo Hồ Minh T từ 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm cải tạo
không giam giữ về tội “Xâm phạm mồ mả”.
Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.
Giao bị cáo Hồ Minh T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục.
- Biện pháp tư pháp:
+ Về trách nhiệm dân sự: những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự, nên đề nghị không đặt ra xem xét.
+ Về vật chứng: Đối với 01 viên đá có kích thước (10,5 x 16,5)cm và 01 áo sơ mi dài tay nền trắng có hình hoa văn màu nâu đen, vùng lưng có nhiều vết rách nham nhở nằm rải rác là công cụ thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng nên đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Đối với người tham gia tố tụng:
Người làm chứng anh Hồ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Hội đồng xét xử xét thấy, người làm chứng nêu trên đã trình bày rõ lời khai của họ tại giai đoạn điều tra nên việc vắng mặt của họ tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với nội dung diễn biến của vụ án; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; bản ảnh hiện trường, bản ảnh tang vật, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng. Có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Hồ Minh T có hành vi dùng áo sơ mi quấn bên ngoài viên đá loại (4 x 6) đập phá ngôi mộ của Hồ Minh K, làm vỡ gạch ở mặt trên kích thước (49 x 20)cm, mặt trước kích thước (24.5 x 7)cm, mặt trước phía trong của bia mộ kích thước (26 x 9)cm, vỡ một lọ cắm hoa, một bát hương và hai chân nến đặt phía trước mộ.
Căn cứ vào quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo Hồ Minh T đã phạm tội “Xâm phạm mồ mả”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 319 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Hồ Minh T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, lẽ ra khi có tranh chấp đất đai với ông Hồ Minh C là bác ruột của bị cáo, thì bị cáo phải lựa chọn cách xử sự phù hợp cùng với gia đình ông C hòa giải, thương lượng để đi đến thỏa thuận, nếu kết quả không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật, nhưng không làm được điều đó chỉ vì muốn thỏa mãn sự bực tức cá nhân bị cáo lại có hành vi đập phá làm vỡ gạch ở mặt trên, mặt trước, mặt trước phía trong của bia mộ, vỡ một lọ cắm hoa, một bát hương và hai chân nến đặt phía trước mộ của anh Hồ Minh K.
Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, là hành vi trái đạo đức nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến phong tục tập quán truyền thống thờ cúng, chôn cất, ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và tâm linh, gây tâm lý hoang mang lo lắng, bức xúc của những người thân của người đã chết. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thuộc thành phần nhân dân lao động, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy rằng bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hại không lớn, phạm tội trong trường hợp kém hiểu biết về pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cũng có thể giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt. Tuy nhiên, thấy rằng cũng cần thiết có một mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo có nghề nghiệp là làm thuê, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, hiện đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 viên đá có kích thước (10,5 x 16,5)cm và 01 áo sơ mi dài tay nền trắng có hình hoa văn màu nâu đen, vùng lưng có nhiều vết rách nham nhở nằm rải rác, đây là công cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu, tiêu hủy.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 56/QĐ-VKSCT-HS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành).
Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hồ Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 319; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ
luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Hồ Minh T phạm tội “Xâm phạm mồ mả”.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Minh T 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.
Giao bị cáo Hồ Minh T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục.
Gia đình bị cáo Hồ Minh T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Về các biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: không.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 viên đá có kích thước (10,5 x 16,5)cm và 01 áo sơ mi dài tay nền trắng có hình hoa văn màu nâu đen, vùng lưng có nhiều vết rách nham nhở nằm rải rác.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 56/QĐ-VKSCT-HS ngày 16/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Hồ Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Ủy ban nhân dân xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; - Phòng KTNVTHA; - PV 06; - Sở Tư pháp; - Văn phòng; Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Quyên |