- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa bà Trần Thị Hiền L và ông Phạm Hồng Nh"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 14-3-2023 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trình
2. Ông Đặng Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 343/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2023/QĐST- HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Hiền L, sinh năm 1990; địa chỉ: Số 84 đường Ph, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Hồng Nh, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 93 đường C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện ngày 25 tháng 07 năm 2022, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Hiền L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Hồng Nh kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03, quyển số 01 ngày 19/01/2009). Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với gia đình chồng tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng sau đó thì ra ở riêng. Sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã nhưng mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào tháng 11 năm 2021, vợ chồng lời qua tiếng lại và đỉnh điểm là ông Nh đánh đập và đuổi bà ra khỏi nhà. Vì con nên bà trở về để vợ chồng hàn gắn nhưng vẫn không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã nhau, ông Nh thường xuyên nhậu say, sống không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình. Bà và ông Nh không sống chung với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, bà không còn tình cảm gì với ông Nh nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phạm Hồng Nh.
- Về quan hệ con chung: Bà và ông Phạm Hồng Nh có 02 con chung tên Phạm Phú Hoàng L, sinh ngày 10/08/2009 và Phạm Ngọc Hoàng M, sinh ngày 25/05/2014. Ly hôn, bà có nguyện vọng nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Phạm Ngọc Hoàng M và giao con Phạm Phú Hoàng L cho ông Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
- Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Bà L xác nhận không có.
* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Phạm Hồng Nh không có mặt tại Tòa án và không có bản tự khai gửi Tòa án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Hiền L, xử cho bà Trần Thị Hiền L được ly hôn ông Phạm Hồng Nh.
+ Về quan hệ con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Phạm Ngọc Hoàng M sinh ngày 25/05/2014 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Phú Hoàng L, sinh ngày 10/08/2009 cho ông Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
+ Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà L xác nhận không có.
+ Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Trần Thị Hiền L khởi kiện yêu cầu được ly hôn ông Phạm Hồng Nh cư trú tại địa chỉ số 93 đường , phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Bị đơn ông Phạm Hồng Nh được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nh.
Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, bà Trần Thị Hiền L yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Hồng Nh.
Xét thấy: Qua lời khai của bà L cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà L và ông Nh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên có lời qua tiếng lại, vợ chồng sống không hạnh phúc. Bà L và ông Nh đã không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2022 cho đến nay, bà L và cháu Phạm Ngọc Hoàng M về nhà cha mẹ ruột của bà để sinh sống còn ông Nh và cháu Phạm Phú Hoàng L sinh sống tại nhà riêng, vợ chồng phần ai nấy sống không ai có trách nhiệm với ai. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng ông Nh không đến Tòa án. Điều này chứng tỏ ông Nh không quan tâm, không có thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông Nh đã thật sự trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Trần Thị Hiền L được ly hôn với ông Phạm Hồng Nh là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Bà L và ông Nh có 02 con chung tên Phạm Phú Hoàng L, sinh ngày 10/08/2009 và Phạm Ngọc Hoàng M, sinh ngày 25/05/2014. Ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Phạm Ngọc Hoàng M, giao con chung tên Phạm Phú Hoàng L cho ông Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Xét thấy, việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về mặt thể chất và tinh thần. Hiện nay, bà L và ông Nh không còn sống chung với nhau, cháu Phạm Phú Hoàng L đang được ông Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng còn cháu Phạm Ngọc Hoàng M đang được bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, cháu M có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu L có nguyện vọng được ở với ba. Do vậy, không nên xáo trộn cuộc sống hiện tại của các cháu, giao cháu Phạm Phú Hoàng L cho ông Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Phạm Ngọc Hoàng M cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà L xác nhận không có.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Trần Thị Hiền L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Hiền L được ly hôn ông Phạm Hồng Nh.
2.Về quan hệ con chung: Giao con chung Phạm Ngọc Hoàng M, sinh ngày 25/05/2014 cho bà Trần Thị Hiền L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Phạm Phú Hoàng L, sinh ngày 10/08/2009 cho ông Phạm Hồng Nh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung cho bên nào.
Các bên đương sự có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3.Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà L xác nhận không có.
5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình bà Trần Thị Hiền L phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002054 ngày 30 tháng 09 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Như vậy, bà L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Hiền L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng ông Phạm Hồng Nh vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND Q. Cẩm Lệ; - CCTHADS Q.Cẩm Lệ; - TAND thành phố Đà Nẵng; - UBND phường H; - Đương sự; - Lưu. HỘI | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Hằng |