- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nuôi E - Phạm Tiến D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nuôi E1 đối với ông Phạm Tiến Dững.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-09 -2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Đức Huy
2. Ông Trịnh Thế Phương Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 134/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Nuôi E1, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp Bà Mía, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: ấp Tân Thọ, xã H, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Phạm Tiến D, sinh năm 1992. Địa chỉ: ấp Bà Mía, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
(Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Nuôi E1 trình bày: Bà Nuôi E1 và ông D kết hôn với nhau vào năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Xã H, huyện H tỉnh Kiên Giang vào ngày 13/11/2017. Sau khi kết hôn Bà Nuôi E1 và ông D sống tại xã L huyện T. Cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc do ông D đánh bà, sử dụng ma túy và không lo kiếm tiền phụ giúp gia đình. Năm 2022 mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà E1 đã bỏ về bên ruột sinh sống. Bà E1 xác định không còn tình cảm với ông D, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Nuôi E1 yêu cầu ly hôn với ông D.
Về con chung: có 01 con chung tên Phạm Quốc K, sinh ngày 12/01/2013. Hiện con chung đang do ông D nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà Nuôi E1 yêu cầu ông D nuôi dưỡng con chung, bà Nuôi E1 không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phạm Tiến D không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến hay yêu cầu cụ thể nào.
Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ được do bị đơn không hợp tác nên đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Dững vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được bà Nuôi E1 yêu cầu ly hôn là phù hợp. Về con chung giao ông D trực tiếp nuôi dưỡng; bà Nuôi E1 không phải cấp dưỡng nuôi con do ông D không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nuôi E1 xác định không có, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Nuôi E1 và ông Phạm Tiến D có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay bà Nguyễn Thị Nuôi E1 yêu cầu ly hôn, ông D đang cư trú tại ấp Bà Mía, xã M, huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
. Bà Nguyễn Thị Nuôi E1 và ông Phạm Tiến D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng bà Nuôi E1 có đơn xin xét xử vắng mặt, ông D vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông bà theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nuôi E1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nuôi E1 cho rằng giữa bà và ông D đã xảy ra mâu thuẫn do ông D sử dụng ma túy, không phụ lo kiếm tiền cho gia đình ngược lại còn đánh bà. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu bà Nuôi E1 cung cấp gồm đơn khởi kiện có thể hiện rõ lời trình bày của bà Nuôi E1 về mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên ông D không có ý kiến hay phản đối. Do đó nhận thấy trong thời gian chung sống giữa bà Nuôi E1 và ông D đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai bên không tìm cách để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây cãi hậu quả bà Nuôi E1 và ông D không còn sống chung từ tháng 10/2022 cho đến nay. Tòa án tiến hành hòa giải cho ông bà trở về đoàn tụ đồng thời cho thêm thời gian để ông bà khắc phục tình trạng hôn nhân của mình, song ông D không tham gia hòa giải. Tại phiên tòa ông D cũng vắng mặt cho thấy ông không còn thiết tha với mối quan hệ hôn nhân này. Bà Nuôi E1 vắng mặt vẫn cương quyết ly hôn và xác định vợ chồng không còn sống chung, không còn yêu thương quan tâm chăm sóc nhau. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bà Nuôi E1 và ông D không còn sống chung, không còn thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, mạnh ai đó sống, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Nuôi E1 là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Cháu Phạm Quốc K, sinh ngày: 12/01/2013, hiện còn nhỏ và đang do ông D nuôi dưỡng, cháu có nguyện vọng được sống chung với ông D. Bà Nuôi E1 đồng ý giao con chung cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng; ông D không phản đối việc trực tiếp nuôi con chung. Do đó giao cháu Kiệt cho ông D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông D không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Khi cần thiết ông D có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nuôi E1, xác định không có. Ông D không có lời trình bày nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bà Nuôi E1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nuôi E1 đối với ông Phạm Tiến Dững.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Nuôi E1 được ly hôn với ông Phạm Tiến Dững.
Về con chung: Giao con chung tên Phạm Quốc K; sinh ngày: 12/01/2013 cho ông Phạm Tiến D trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi.
Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng bà Nuôi E1 được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
2. Án phí: Bà Nguyễn Thị Nuôi E1 phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003942 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Bà Nguyễn Thị Nuôi E1 không phải nộp thêm án phí.
3. Án xử sơ thẩm, đương sự không đồng ý thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Dững An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Các đương sự; - UBND xã Tân Hội; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hƣơng |