vanban.org

Bản án 72/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 28/7/2023
V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Minh.

2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương–Kiểm sát viên.

Ngày 28/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 23/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 14/7/2023 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T–sinh năm:1985 (có mặt)

-Bị đơn: Ông Phạm Quỳnh D–sinh năm: 1978 (vắng mặt)

Cùng nơi cư trú tại: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày: Bà và ông Phạm Quỳnh D tự nguyện kết hôn năm 2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc, về sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn hay cải nhau do bất đồng quan điểm sống. Ông D hay uống rượu kiếm chuyện chửi mắng xúc phạm bà, mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ cuối năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không qua lại gì với nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông D. Bà và ông D có 02 con chung tên Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013 và Phạm Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018, hiện bà đang nuôi cháu Nguyễn D P, còn ông D đang nuôi cháu Phạm Nguyễn D K. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, bà đồng ý giao cháu K cho ông D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Quỳnh D: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.

Chính quyền địa phương thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông D và bà T sinh sống xác nhận: Quá trình ông D, bà T chung sống không hợp nhau, hiện hai người này không còn chung sống với nhau.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N P biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D. Về con chung có 02 người con, khi ly hôn nên giao cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018 cho bà T nuôi dưỡng, để cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013 cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí bà T phải chịu theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thùy T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Phạm Quỳnh D, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Đối với bị đơn ông Phạm Quỳnh D vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Phạm Quỳnh D tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57, quyển số 01/2012 ngày 02/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P-N-Ninh Thuận, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống P sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau.

Xét thấy, hôn nhân của giữa bà T và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

Về con chung: Có 02 người con chung, trong khoảng thời gian sống ly thân thì bà T đang nuôi cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018, còn ông D đang nuôi cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa bà T yêu cầu được nuôi cháu P và đồng ý giao cháu K cho ông D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Theo ý kiến của cháu K nếu ba mẹ ly hôn thì cháu K muốn được ở với ba (D).

Xét thấy từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông D vắng mặt không có ý kiến gì, từ khi vợ chồng sống ly thân thì chính bà T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu P, còn ông D là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu K. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của các con, HĐXX nghĩ nên giao cháu P cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu K cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí 300.000đ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D.

2.Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018.

Ông Phạm Quỳnh D có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013.

Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

4.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002948 ngày 09/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Thùy T đã nộp đủ án phí.

5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ