- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2023 V/v:"Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Ngọc Minh.
2. Bà Lê Thị Hường.
-Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương–Kiểm sát viên.
Ngày 28/7/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 23/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 14/7/2023 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T–sinh năm:1985 (có mặt)
-Bị đơn: Ông Phạm Quỳnh D–sinh năm: 1978 (vắng mặt)
Cùng nơi cư trú tại: Thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày: Bà và ông Phạm Quỳnh D tự nguyện kết hôn năm 2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc, về sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn hay cải nhau do bất đồng quan điểm sống. Ông D hay uống rượu kiếm chuyện chửi mắng xúc phạm bà, mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ cuối năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không qua lại gì với nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông D. Bà và ông D có 02 con chung tên Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013 và Phạm Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018, hiện bà đang nuôi cháu Nguyễn D P, còn ông D đang nuôi cháu Phạm Nguyễn D K. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, bà đồng ý giao cháu K cho ông D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Phạm Quỳnh D: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.
Chính quyền địa phương thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông D và bà T sinh sống xác nhận: Quá trình ông D, bà T chung sống không hợp nhau, hiện hai người này không còn chung sống với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát huyện N P biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D. Về con chung có 02 người con, khi ly hôn nên giao cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018 cho bà T nuôi dưỡng, để cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013 cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí bà T phải chịu theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thùy T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Phạm Quỳnh D, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Đối với bị đơn ông Phạm Quỳnh D vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T và ông Phạm Quỳnh D tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 57, quyển số 01/2012 ngày 02/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã P-N-Ninh Thuận, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống P sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau.
Xét thấy, hôn nhân của giữa bà T và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
Về con chung: Có 02 người con chung, trong khoảng thời gian sống ly thân thì bà T đang nuôi cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018, còn ông D đang nuôi cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013. Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa bà T yêu cầu được nuôi cháu P và đồng ý giao cháu K cho ông D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Theo ý kiến của cháu K nếu ba mẹ ly hôn thì cháu K muốn được ở với ba (D).
Xét thấy từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông D vắng mặt không có ý kiến gì, từ khi vợ chồng sống ly thân thì chính bà T là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu P, còn ông D là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu K. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của các con, HĐXX nghĩ nên giao cháu P cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu K cho ông D tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí 300.000đ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D.
2.Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018.
Ông Phạm Quỳnh D có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013.
Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
4.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002948 ngày 09/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Thùy T đã nộp đủ án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Ninh Thuận; -VKSND tỉnh Ninh Thuận; -VKSND huyện N; -Chi cục THADS huyện N; -Các đương sự; -UBND xã P-N; -Lưu (hồ sơ, án văn). TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN Vào hồi giờ ngày 28 tháng 7 năm 2023, sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy. - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường. HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa: -Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T–sinh năm:1985 (có mặt) -Bị đơn: Ông Phạm Quỳnh D–sinh năm: 1978 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận. Hội đồng xét xử thảo luận, biểu quyết và quyết định 3/3 vấn đề như sau: Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về nội dung: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. 1.Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thùy T được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D. nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018. chung là cháu Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. 3.Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết. ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002948 ngày 09/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Thùy T đã nộp đủ án phí. hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày nghe và ký tên dưới đây. Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Ngọc Minh Lê Thị Hường TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN huyện N, Hội đồng xét xử sơ thẩm sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy. - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường. HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa: -Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T–sinh năm:1985 (có mặt) -Bị đơn: Ông Phạm Quỳnh D–sinh năm: 1978 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận. Xét thấy: Bị đơn vắng mặt không có lý do. HĐXX thảo luận, biểu quyết và quyết định 3/3 vấn đề của vụ án như sau: Căn cứ vào khoản 1 điều 227, điều 233 của Bộ luật tố tụng dân. 09/02/2023. phút ngày 28/7/2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện N, Ninh Thuận. Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày. nghe và ký tên dưới đây. Thành viên Hội đồng xét xử Phạm Ngọc Minh Lê Thị Hường TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN BIÊN BẢN PHIÊN TÒA HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH SƠ THẨM Vào hồi giờ phút, 28 tháng 7 năm 2023 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận 23/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐHNGĐ-ST ngày 14/7/2023: Vụ án được xét xử công khai. I. Những người tham gia tố tụng: -Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T–sinh năm:1985 (có mặt) -Bị đơn: Ông Phạm Quỳnh D–sinh năm: 1978 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận. II. Những người tiến hành tố tụng: -Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Minh. 2. Bà Lê Thị Hường. Ninh Thuận. Ngọc Hương–Kiểm sát viên. III. Phần thủ tục bắt đầu phiên toà: Chủ toạ phiên toà tuyên bố khai mạc phiên toà những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án. giấy triệu tập, giấy báo của Toà án và kiểm tra căn cước của đương sự; phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. CTPT hỏi ý kiến của Kiểm sát viên và nguyên đơn về sự vắng mặt của bị đơn? Kiểm sát viên cho rằng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vụ án. Nguyên đơn không có ý kiến gì về sự vắng mặt của bị đơn. HĐXX thảo luận tại chỗ và quyết định vụ án được tiếp tục xét xử. toà hỏi nguyên đơn có yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa không? nguyên đơn trả lời không thay đổ những người tiến hành tố tụng. không? Kiểm sát viên không bổ sung gì thêm. về những vấn đề gì. nhưng chung sống không hạnh phúc, P sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng sống đang ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn. Hỏi: Tại phiên tòa ngày hôm nay bà có thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình không? Đáp: Thưa, tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hỏi: Bà và ông Phạm Quỳnh D tiến đến hôn nhân năm nào? Đáp: Tôi và ông Phạm Quỳnh D tự nguyện kết hôn năm 2012 đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện N. Hỏi: Quá trình vợ chồng bà chung sống với nhau như thế nào? Đáp: Thời gian đầu vợ chồng chung sống tương đối hạnh phúc, về sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn hay cải nhau do bất đồng quan điểm sống. Ông D hay uống rượu kiếm chuyện chửi mắng xúc phạm bà, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng tăng không thể chung sống với nhau. Hỏi: Bà và ông Phạm Quỳnh D còn sống chung không? Đáp: Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên bà bỏ về nhà cha mẹ ruột ở từ cuối năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không qua lại gì với nhau Hỏi: Về hôn nhân bà yêu cầu giải quyết thế nào? Đáp: Nay tình cảm vợ chồng không còn, Tôi đề nghị tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phạm Quỳnh D. Hỏi: Bà và ông Phạm Quỳnh D có mấy người con chung? Đáp: Thưa có 02 con chung tên Phạm Nguyễn D K–sinh ngày 08/5/2013 và Phạm Nguyễn D P–sinh ngày 18/7/2018. Hỏi: Bà có yêu cầu gì về con chung không? Đáp: Trong khoảng thời gian sống ly thân thì bà đang nuôi cháu Nguyễn D P, còn ông D đang nuôi cháu Phạm Nguyễn D K. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, bà đồng ý giao cháu K cho ông D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hỏi: Bà có yêu cầu Tòa giải quyết về tài sản chung của vợ chồng không? Đáp: Tôi không yêu cầu giải quyết phần tài sản chung, nợ chung. N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông D và bà T sinh sống xác nhận: Quá trình ông D, bà T chung sống không hợp nhau, hiện hai người này không còn chung sống với nhau. CTPT hỏi nguyên đơn có yêu cầu HĐXX hỏi thêm vấn đề gì khác không? Nguyên đơn không yêu cầu hỏi thêm gì thêm. Không ai hỏi gì thêm. CTPT tuyên bố kết thúc việc hỏi tại phiên tòa và chuyển sang phần tranh luận. 3. Tranh luận tại phiên tòa: không hợp nhau, P sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân không qua lại với nhau. Hiện tôi không còn tình cảm gì nữa, tôi yêu cầu được ly hôn. Khi ly hôn tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu P, tôi đồng ý giao cháu K cho ông D nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Không yêu cầu giải quyết tài sản chung. con. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử vào phòng nghị án. V. Nghị án và tuyên án: Phiên tòa kết thúc vào hồi giờ phút cùng ngày. Thư ký ghi biên bản phiên tòa Trương Quen TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN BIÊN BẢN PHIÊN TÒA HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH SƠ THẨM Vào hồi giờ phút, 14 tháng 7 năm 2023 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận 23/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09/02/2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/6/2023: Vụ án được xét xử công khai. I. Những người tham gia tố tụng: -Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùy T–sinh năm:1985 (có mặt) -Bị đơn: Ông Phạm Quỳnh D–sinh năm: 1978 (vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện N, Ninh Thuận. II. Những người tiến hành tố tụng: -Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Ngọc Minh. 2. Bà Lê Thị Hường. Ninh Thuận. Ngọc Hương–Kiểm sát viên. III. Phần thủ tục bắt đầu phiên toà: xử. những người tham gia phiên toà theo giấy triệu tập, giấy báo của Toà án. giấy triệu tập, giấy báo của Toà án và kiểm tra căn cước của đương sự; phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. toà hỏi nguyên đơn có yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa không? Nguyên đơn không thay đổi những người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật. Chủ tọa hỏi đại diện viện kiểm sát huyện có ý kiến gì về sự vắng mặt của bị đơn? nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự hoãn phiên tòa hôm nay. Hội đồng xét xử vào nghị án. Chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử công bố quyết định hoãn phiên tòa. Phiên tòa kết thúc vào lúc giờ phút cùng ngày. Thư ký ghi biên bản phiên tòa Trương Quen | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc _______________________ BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tại phòng nghị án của Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, Hội đồng xét xử sơ thẩm Tiến hành nghị án đối với vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 23/2023/TLST- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều Căn cứ vào Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 2.Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thùy T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, Ông Phạm Quỳnh D có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con 4.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thùy T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm 5.Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong Kết quả biểu quyết: 3/3 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ ngày 14/7/2023, tại phòng nghị án của Trụ sở Tòa án nhân dân Tiến hành nghị án đối với vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 23/2023/TLST- Quyết định hoãn phiên tòa vụ án dân sự thụ lý số 23/2023/TLST-HNGĐ, ngày Thời gian và địa điểm mở lại phiên tòa được ấn định xét xử lại vào lúc 15 giờ 30 Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Mở phiên toà để xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số sự thụ lý số -Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Bà Trần Thị Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét xử (HĐXX) về sự có mặt, vắng mặt của Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên toà theo Chủ toạ phiên toà giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng. Chủ toạ phiên CTPT hỏi Kiểm sát viên có bổ sung gì thêm ở phần thủ tục bắt đầu phiên tòa IV. Phần tranh tụng tại phiên tòa 1. Trình bày của đương sự: CTPT đề nghị nguyên đơn trình bày nội dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày: Tôi và ông Phạm Quỳnh D là vợ chồng, 2. Hỏi và trả lời tại phiên tòa: CTPT hỏi bà Nguyễn Thị Thùy T -nguyên đơn CTPT công bố biên bản xác minh tại Chính quyền địa phương thôn P, xã P, huyện Bà Nguyễn Thị Thùy T tranh luận: Tôi và ông Phạm Quỳnh D chung sống Đại diện Viện kiểm sát huyện N P biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà T được ly hôn với ông D. Về con chung có 02 người, nên giao cho bà T nuôi dưỡng cháu P, ông Thuận nuôi cháu K, không ai phải cấp dưỡng nuôi HĐXX tuyên án theo bản án gốc đã được HĐXX thông qua tại phòng nghị án. Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Mở phiên toà để xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số sự thụ lý số -Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen -Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Bà Trần Thị Chủ toạ phiên toà tuyên bố khai mạc phiên toà và đọc quyết định đưa vụ án ra xét Thư ký phiên tòa báo cáo với Hội đồng xét xử (HĐXX) về sự có mặt, vắng mặt của Chủ toạ phiên toà kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên toà theo Chủ toạ phiên toà giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng. Chủ toạ phiên Chủ tọa hỏi ý kiến của nguyên đơn về sự vắng mặt của bị đơn. Nguyên đơn đề nghị Đại diện viện kiểm sát huyện có ý kiến: Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán–Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Xuân Thủy |