- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L- Nguyễn Huy H"
- Tòa quyết gì? Về việc nuôi con chung: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Hoài A, sinh ngày 25- 8- 2012.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST Ngày: 04- 8- 2023 V/v: Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hà Bắc.
Bà Vũ Phương Nhung.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 92/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ nơi cư trú: Xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
Bị đơn: Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 1990; địa chỉ nơi đăng ký thường trú: Xóm E, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; hiện đang cai nghiện tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Nam Định - địa chỉ: Thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định; "vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Huy H tự nguyện tìm hiểu, kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã G cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 11- 11-2011. Sau đó, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Nguyễn Huy H nghiện ma túy. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3- 2013 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Nguyễn Huy H, không còn cơ hội hàn gắn hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, chị xin ly hôn anh Nguyễn Huy H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoài A, sinh ngày 25- 8- 2012, hiện cháu A đang ở cùng chị. Ly hôn, chị nhận nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản: Chị không đề nghị giải quyết.
Ý kiến của anh Nguyễn Huy H: Anh và chị Nguyễn Thị L đã sống ly thân năm 2013 cho đến nay. Anh xác định không còn tình cảm với chị L nên chị L đề nghị ly hôn, anh nhất trí. Vợ chồng 01 con chung là Nguyễn Thị Hoài A, sinh ngày 25- 8- 2012, do hiện nay anh đang cai nghiện nên không có điều kiện để trực tiếp nuôi con nên anh nhường quyền nuôi con cho chị L nhưng chị L phải đảm bảo quyền thăm nom con, không được ngăn cản việc anh H thăm gặp con. Anh H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án, xin vắng mặt khi Tòa án xét xử.
Ý kiến của con chung cháu Nguyễn Thị Hoài A: Cháu trình bày nguyện vọng tiếp tục được ở cùng mẹ.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại xã G, huyện G: Việc kết hôn, chung sống vợ chồng như chị Nguyễn Thị L trình bày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Huy H. Căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao con chung là Nguyễn Thị Hoài A, sinh ngày 25- 8- 2012 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L và bị đơn anh Nguyễn Huy H đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Huy H kết hôn hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng của chị L và anh H không có hạnh phúc, hai bên đã sống ly thân trong khoảng thời gian dài. Nay chị L xin ly hôn, anh H nhất trí. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị L về việc xin ly hôn anh Nguyễn Huy H.
Về con chung: Xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Hoài A, sinh ngày 25- 8- 2012. Căn cứ nguyện vọng của các đương sự, của con chung và để đảm bảo sự phát triển tốt nhất của con chung; cần giao cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Nguyễn Huy H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn nên phải nộp án phí.
Các đương sự đều vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; xử: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Huy H.
2. Về việc nuôi con chung: Căn cứ các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Thị Hoài A, sinh ngày 25- 8- 2012. Anh Nguyễn Huy H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000533 ngày 25- 5- 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự: 02 bản; - VKSND huyện Giao Thủy: 01 bản; - VKSND tỉnh Nam Định: 01 bản; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy: 01 bản; - UBND xã Giao Lạc: 01 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Duyên |