vanban.org

Bản án 72/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 72/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Đông và ông Hoàng Luật

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham

gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phƣớc - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng

Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 509/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1977

Địa chỉ: Ấp 2, xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Ông Phan Thanh H2, sinh năm: 1980

Địa chỉ: Tổ 2, ấp 3, xã La Ngà, huyện Định Quán, Đồng Nai.

(Bà H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông H2 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/11/2022, lời khai trong quá trình chuẩn bị xét

xử nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Phan Thanh H2 tự

nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã La Ngà và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 149, ngày 10/11/2014.

Đời sống hôn nhân của vợ chồng bà đầm ấm, H phúc được một thời gian thì

bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm thường hay cãi vã dẫn đến bà H đã ly thân và đưa con về sinh sống tại ấp 2, xã Gia Canh, huyện Định Quán. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng tình hình vẫn không được cải thiện, hiện nay bà và ông Hoà đã không còn sống chung với nhau, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, nay tình cảm vợ chồng không còn bà yêu cầu được ly hôn với ông Phan Thanh H2.

Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung là Phan Nguyên Kim Ngân,

sinh ngày 23/4/2014. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn và yêu cầu ông H2 cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 1.800.000đồng kể từ ngày 21/11/2022 cho đến khi con chung thành niên.

Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

về nợ chung: Theo bà H, vợ chồng không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 25/5/2023, bà H rút một

phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông Hoà cấp dưỡng nuôi con. Bà H không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra bà H đề nghị Toà án giải quyết ly hôn vắng mặt trong các buổi làm

việc, các phiên họp, hoà giải và xét xử.

Bị đơn anh Phan Thanh H2 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng

không đến Tòa án để làm việc cũng không hợp tác cố tình vắng mặt khi Tòa án xác minh, ghi lời khai tại địa phương vì vậy không có lời khai hay lời trình bày của anh Hoà.

Để chứng minh cho yêu cầu, ý kiến của mình, nguyên đơn đã nộp kèm theo

đơn khởi kiện những tài liệu chứng cứ sau: Căn cước công dân (bản sao); Xác nhận thông tin cư trú (bản chính); Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai sinh của các con chung (bản sao); Lời khai của nguyên đơn tại bản tự khai; Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đề ngày 25/5/2023. Các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tòa án đã tiến hành sao gửi hợp lệ cho bị đơn.

Để giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã tiến hành thu

thập những tài liệu, chứng cứ sau: Đơn nguyện vọng của cháu Phan Nguyễn Kim Ngân; Đơn xin xét xử vắng mặt; Biên bản xác minh ngày 19/4/2022 về tình trạng hôn nhân của các đương sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Bị đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận cho bà H ly hôn với ông Phan Thanh

Hoà; về con chung: Đề nghị giao con chung Phan Nguyên Kim Ngân cho bà H nuôi dưỡng.

Về phần cấp dưỡng: Bà H đã có đơn yêu cầu rút một phần nội dung khởi kiện

về cấp dưỡng nên đình chỉ yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng của bà H. Tạm thời miễn cấp dưỡng cho ông Hoà, do bà H chưa có yêu cầu.

Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Về nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào

kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn với

ông Phan Thanh H2, tranh chấp về nuôi con chung là Phan Nguyên Kim Ngân, sinh ngày 23/4/2014. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Phan Thanh H2 có nơi cư trú tại: Tổ 2, ấp 3, xã Là Ngà, huyện

Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có

đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phan Thanh Hoà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà H, ông Hoà được xác lập trên

cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã La Ngà và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 149, ngày 10/11/2014, do đó đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

Đời sống hôn nhân của bà H, ông H2 đầm ấm, hạnh phúc đến năm 2017

thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, không thông cảm và chia sẻ cho nhau những vấn đề trong cuộc sống. Hiện nay, bà H, ông H2 đã không còn sống chung, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Lời khai của nguyên đơn về quá trình chung sống, nguyên nhân phát

sinh mâu thuẫn của vợ chồng phù hợp với biên bản xác minh về mâu thuẫn vợ chồng. Qua đó có đủ cơ sở xác định vợ chồng bà H, ông H2 đã có những mâu thuẫn lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn nên đã sống ly thân nhau.

Từ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ thu thập được nhận

thấy bà H, ông H2 trong quá trình sống chung đã không tôn trọng, thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 85, Điều 91 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông H2 là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H, ông H2 có

01 (một) con chung là Phan Nguyên Kim Ngân, sinh ngày 23/4/2014. Khi khởi kiện, bà H yêu cầu ông Hoà cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.800.000 đồng. Tuy nhiên, ngày 25/5/2023, bà H đã có yêu cầu xin rút một phần nội dung khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng nên đình chỉ yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng của bà H. Tạm thời miễn cho ông Hoà nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà H không yêu cầu.

Xét thấy từ khi vợ chồng bà H, ông H2 không còn sống chung thì con

chung do bà H chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; cháu Ngân có nguyện vọng được sống chung với bà H. Do đó giao cháu Phan Nguyên Kim Ngân, sinh ngày 23/4/2014 cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau ly hôn.

Về tài sản chung: Bà H trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án

giải quyết, nên không xem xét; về nợ chung: Bà H khai không có, nên không xem xét. Nếu có yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung bà H, ông H2 có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

Về án phí: Bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó bà H phải

chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án

là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;

khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 18, 85, 91, 92, 93 luật hôn nhân gia đình năm 2000; Các điều 19,

51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H về việc “Ly hôn,

tranh chấp về nuôi con chung” đối với ông Phan Thanh H2.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn ông Phan

Thanh H2.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Nguyên Kim Ngân, sinh ngày

23/4/2014 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời miễn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông H2 do bà H không yêu cầu.

Ông H2 có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được

gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị

Kim H về yêu cầp cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung: Tòa án không xem xét, giải quyết; về nợ chung: Tòa án

không xem xét, giải quyết. Khi nào có tranh chấp về chia tài sản chung và nợ chung sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn

đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào số tiền bà H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004009 ngày 16/12/2022 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí. Bà H đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Bà H, ông Hoà có quyền kháng cáo trong thời hạn

15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ