- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Ngọc P "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T; Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2021/HS-ST ngày 18-10-2021 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Căn cứ chính? Điều 585 Bộ luật Dân sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HS-PT Ngày 26-4-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhậm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cảnh.
Bà Trịnh Thị Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà:
Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 145/2021/TLPT-HS ngày 03 tháng 12 năm 2021 đối với Hồ Ngọc P do có kháng cáo của Nguyên đơn dân sự ông Nguyễn Hữu T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2021/HS-ST ngày 18-10-2021 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo:
Nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1967. Là bị hại trong vụ án. Địa chỉ: Phường 1, thị xã K, tỉnh Long An. (Có mặt)
- Người bị kháng cáo:
Bị đơn dân sự: Ông Hồ Ngọc P, sinh năm 1989. Là người bị kết án trong vụ án. HKTT: thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Chổ ở hiện nay: Phường 1, thị xã K, tỉnh Long An.
Đại diện theo ủy quyền của Hồ Ngọc P: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1958, Chổ ở hiện nay: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Theo giấy ủy quyền ngày 15/3/2022. (Có mặt)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Hồ Ngọc P: Ông Ngô Tấn T- Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh Long An. (Có mặt)
Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Hồ Ngọc M, sinh năm 1955
2. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1963
Cùng HKTT: thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Cùng địa chỉ cư trú hiện tại: Phường 1, thị xã K, Long An.
3. Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1969
Địa chỉ: Khu phố 3, Phường 1, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
4. Bảo hiểm xã hội thị xã Kiến Tường
Địa chỉ: Phường 1, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 02/6/2020 tại đám tang của bà Nguyễn Thị Tuyết M1 thuộc Phường 1, thị xã K, giữa Hồ Ngọc P và Nguyễn Hữu T xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. Sau khi được mọi người can ngăn thì P về nhà (nhà P gần nhà bà Mai). Khoảng 10 phút sau ông T cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh L đi bộ từ trong đám tang ra đường Lê Quốc Sản lấy xe về. P từ trong nhà chạy ra dùng tay đánh vào mặt ông T làm ông T ngã ngửa xuống đường, hậu quả ông T bị thương tích. Theo kết luận giám định thương tích số 173/TgT.20-PY ngày 29/9/2020 thì ông T bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 75%.
Tại Bản án phúc thẩm số 47/2021/HSPT ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử về hình sự tuyên Hồ Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d Khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự, xử phạt 05 năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày chấp hành án; Hủy một phần bản án sơ thẩm số 34/2020/HSST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường về phần trách nhiệm dân sự. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường giải quyết phần trách nhiệm dân sự theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử sơ thẩm về phần trách nhiệm dân sự.
Trong quá giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm:
Ông T yêu cầu Hồ Ngọc P bồi thường tổng thiệt hại 412.600.000 đồng. Cụ thể gồm: Chi phí điều trị, thuốc 40.000.000 đồng; Tiền thuê xe 5.200.000 đồng (1.300.000 đồng x 4 lần); Tiền ăn uống trong 06 tháng, mỗi ngày 150.000 đồng thành tiền 27.000.000 đồng; Tiền mất thu nhập trong 06 tháng, mỗi ngày 400.000 đồng thành tiền 64.000.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 100.000.000 đồng; Tiền công lao động cho người nuôi bệnh là vợ ông (bà L) trong 02 tháng, mỗi ngày 300.000 đồng là 17.400.000 đồng; Tiền ăn cho người nuôi bệnh 150.000 đồng/ngày, trong 02 tháng là 9.000.000 đồng. Tiền chi phí lắp hộp sọ 150.000.000 đồng.
Trong quá trình điều trị thì gia đình ông P đã bồi thường cho ông 122.000.000 đồng nên số tiền yêu cầu bồi thường tiếp là 290.600.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 21/2021/HS-ST ngày 18-10-2021 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã xử:
Căn cứ Điều 88, Điều 135, Điều 136, Điều 252, Điều 332, Điều 333, Điều 336 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Áp dụng Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 12, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Nguyễn Hữu T đối với ông Hồ Ngọc P.
Tuyên: Ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 133.940.000 đồng. Ông Nguyễn Hữu T đã nhận được số tiền bồi thường là 122.000.000 đồng nên buộc ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 11.940.000 đồng (Mười một triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 29/10/2021, ông Nguyễn Hữu T kháng cáo yêu cầu ông Hồ Ngọc P bồi thường tổn thất tinh thần 74.500.000đ, mất thu nhập 72.000.000đ, tiền vá hộp sọ 120.000.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T trình bày:
Về mức độ “tổn thất tinh thần” theo yêu cầu của ông tại phiên tòa sơ thẩm là 60 tháng lương cơ sở, nhưng tòa chỉ chấp nhận 38 tháng là chưa thỏa đáng.
Về thời gian mất thu nhập từ khi bị cáo Hồ Ngọc P gây thương tích cho ông (vì chưa lắp lại hộp sọ, sức khỏe của ông chưa hoàn toàn hồi phục, nên chưa thể đi làm từ ngày xuất viện đến nay), nhưng tòa sơ thẩm chỉ tính thời gian nằm viện điều trị và cộng thêm 15 ngày nghĩ dưỡng là chưa đúng.
Về chi phí lắp hộp sọ, do gia đình tôi hiện rất khó khăn, nên không có tiền để thực hiện việc lắp xong hộp sọ, mới nộp chứng từ thanh toán để “kiện một vụ kiện khác nhưng tòa sơ thẩm không xem xét yêu cầu này của ông”.
Ông Nguyễn Hữu T yêu cầu ông Hồ Ngọc P bồi thường tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở 74.500.000đ, mất thu nhập từ ngày 02/6/2020 đến ngày 02/12/2020 là 72.000.000đ, tiền vá hộp sọ 120.000.000đ.
Đại diện của ông Hồ Ngọc P là ông Nguyễn Văn L không đồng ý theo yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo như án sơ thẩm đã xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung:
Nguyên đơn dân sự kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Tại bản án số 21/2021/HS-ST ngày 18-10-2021 Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường.
Căn cứ Điều 88, Điều 135, Điều 136, Điều 252, Điều 332, Điều 333, Điều 336của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Áp dụng Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 12, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Nguyễn Hữu T đối với ông Hồ Ngọc P.
Tuyên: Ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 133.940.000 đồng. Ông Nguyễn Hữu T đã nhận được số tiền bồi thường là 122.000.000 đồng nên buộc ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 11.940.000 đồng (Mười một triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Ngày 29/10/2021 ông Nguyễn Hữu T kháng cáo với yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử: Buộc bị cáo Hồ Ngọc P phải bồi thường cho ông T: Tiền tổn thất tinh thần là 74.500.000đ bằng 50 tháng lương cơ sở, tiền mất thu nhập thực tế từ ngày 02/6/2020 đến 02/12/2020 là 72.000.000đ, tiền vá hộp sọ 120.000.000đ.
Các khoản yêu cầu khác ông chấp nhận không kháng cáo.
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm và xem xét đơn kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Hữu T tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay nhận thấy.
Hiện tại ông Nguyễn Hữu T kháng cáo với yêu cầu cấp Phúc Thẩm xét xử : Buộc bị cáo Hồ Ngọc P phải bồi thường cho ông: Tiền tổn thất tinh thần; Tiền mất thu nhập; Tiền vá hộp sọ 120.000.000đ. Nên chỉ xem xét các yêu cầu này:
Về yêu cầu tổn thất tinh thần: Căn cứ Khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự thì mức bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Căn cứ Khoản 2 Điều 3 của Nghị định 38/2019/NĐ-CP thì mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng.
Trường hợp của ông T tổn thất tinh thần được bồi thường do chịu đau thương của thương tích gây ra. Án sơ thẩm đã căn cứ trên mức tỷ lệ thương tích của ông T là 75%, và phần trình bày của ông T thì hiện nay tinh thần ông T vẫn tỉnh táo, sinh hoạt bình thường nhưng có giảm sút về sức khỏe so với trước khi bị thương tích nên Án sơ thẩm đã xem xét chấp nhận mức bồi thường tương ứng 38 lần mức lương cơ sở thành tiền là 38 x 1.490.000 đồng = 56.620.000 đồng là phù hợp,
Về thiệt hại thu nhập thực tế bị mất: Ông T trình bày trước khi bị thương tích thì ông làm thợ sơn và đang được ông Nguyễn Hoàng Trụ Vũ thuê, tiền công 400.000 đồng/ngày, mỗi tuần nghỉ ngày chủ nhật. Căn cứ lời khai của người làm chứng ông Vũ cũng xác nhận ông T có làm thuê cho mình theo đúng nội dung trên, trước khi bị đánh thì đã làm cho ông Vũ được 02 tháng. Do đó án sơ thẩm có căn cứ chấp nhận mức bồi thường thu nhập thực tế ông T bị mất là 400.000 đồng/ngày. Căn cứ tài liệu ông T điều trị tại bệnh viện từ đêm ngày 02/6/2020 đến ngày 20/6/2020 là 18 ngày, trong đó có 02 ngày chủ nhật nên số ngày bị mất thu nhập là 16 ngày, thành tiền: 16 ngày x 400.000 đồng = 6.400.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 22/9/2020 ông T đến khám tại Bệnh viện đa khoa Long An, từ ngày 23/9/2020 đến ngày 28/9/2020 nhập viện điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, tổng cộng 07 ngày, trong đó có 01 ngày chủ nhật nên số ngày bị mất thu nhập là 06 ngày, thành tiền 2.400.000 đồng.
Theo hồ sơ bệnh án khi ông T xuất viện, bác sĩ không có lời khuyên dặn cần phải nghỉ ngơi bao nhiêu ngày để phục hồi sức khỏe. Hội đồng xét xử căn cứ trên mức độ thương tích chấp nhận cho ông T thêm 15 ngày nghỉ ngơi không lao động tính từ ngày tiếp theo ngày xuất viện (tức từ 21/6/2021 đến 05/7/2021) nên thiệt hại mất thu nhập là 15 ngày x 400.000 đồng = 6.000.000 đồng. Từ đó, án sơ thẩm xét xử chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại mất thu nhập là: 6.400.000 đồng + 2.400.000 đồng + 6.000.000 đồng = 14.800.000 đồng là có căn cứ phù hợp theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Ông T yêu cầu bồi thường toàn bộ thiệt hại mất thu nhập trong 06 tháng là không có căn cứ, vì ngoài thời gian điều trị, tái khám, nghỉ ngơi sau khi xuất viện, thì thời gian còn lại ông T vẫn có thể tìm kiếm một công việc khác phù hợp với sức khỏe để có thu nhập nhưng ông T không làm. Như vậy phần thiệt hại xảy ra do ông T không áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại theo Khoản 5 Điều 585 Bộ luật Dân sự không có căn cứ được bồi thường. Xét thấy, hiện nay ông T vẫn chưa vá hộp sọ nên sức khỏe bị giảm sút so với ban đầu là có thực, do đó xem xét chấp nhận cho ông T được bồi thường một phần thiệt hại thu nhập bị giảm sút do không thể lao động công việc như trước đây theo mức 200.000 đồng/ngày. Về thời gian ông T yêu cầu bồi thường là 06 tháng tính từ khi bị thương tích (tức từ ngày 02/6/2020 đến ngày 02/12/2020), tuy nhiên đã được bồi thường mất thu nhập từ ngày 03/6/2020 đến 20/6/2020 (thời gian điều trị),từ ngày 21/6/2020 đến 05/7/2020 (thời gian nghỉ ngơi sau khi xuất viện), từ ngày 22/9/2020 đến ngày 28/9/2020 (thời gian tái khám, nhập viện). Nên thời gian còn lại được bồi thường thu nhập bị giảm sút (không tính ngày chủ nhật) như sau: Tháng 7/2020 tính từ ngày 06 đến 31/7/2020 là 23 ngày, tháng 8/2020 là 26 ngày, tháng 9/2020 là 20 ngày, tháng 10/2020 là 27 ngày, tháng 11/2020 là 25 ngày, tháng 12/2020 là 02 ngày.
Tổng số 123 ngày, thành tiền: 123 x 200.000 đồng = 24.600.000 đồng như án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ phù hợp theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Về yêu cầu bồi thường chi phí vá xương sọ: Tại Văn bản số 1423/BVCR-KHTH ngày 18/8/2021 của Bệnh viện Chợ Rẫy thì số tiền dự kiến để bệnh nhân được phẫu thuật vá lại xương sọ khuyết vùng trán hai bên khoảng từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (nếu được hưởng chế độ bảo hiểm đúng tuyến) và khoảng từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (nếu không có báo hiểm y tế). Ông T trình bày và yêu cầu chi phí 120.000.000 đồng. Tại phiên tòa các bên không thỏa thuận được mức bồi thường. Theo quy định tại khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự thì thiệt hại được bồi thường phải là “thiệt hại thực tế” xảy ra, trong khi ông T chưa vá hộp sọ, phần chi phí này thực tế chưa xảy ra nên chưa có cơ sở xem xét. Do đó án sơ thẩm không xem xét trong vụ án này, sau này ông T được phẫu thuật vá lại xương sọ, tốn chi phí thì có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự theo quy định pháp luật là phù hợp.
Như vậy án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông T đối với mức bồi thường như sau: 16.720.180 đồng + 14.800.000 đồng + 24.600.000 đồng + 12.000.000 đồng + 4.000.000 đồng + 5.200.000 đồng + 56.620.000 đồng = 133.940.180 đồng (làm tròn 133.940.000 đồng).
Trong quá trình điều trị, ông T đã nhận được số tiền bồi thường 122.000.000 đồng, như vậy số tiền còn lại Hồ Ngọc P phải tiếp tục bồi thường: 133.940.000 đồng – 122.000.000 đồng = 11.940.000 đồng là phù hợp theo quy định của Bộ luật dân sự và chứng cứ thực tế.
Như vậy: Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã căn cứ các Điều 584, 585, 590 Bộ luật Dân sự xem xét giải quyết các yêu cầu về mặt dân sự của ông Nguyễn Hữu T đúng pháp luật nên không có căn cứ xem xét kháng cáo của ông T.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm a, Khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo ông Nguyễn Hữu T giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 21/2021/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo yêu cầu của ông Hồ Ngọc P phát biểu bào chữa có nội dung: Nguyên nhân Hồ Ngọc P gây thương tích cho ông T là do mâu thuẫn, cải vã nhau trong đám tang, khi về Hồ Ngọc P có đánh ông T làm ông T té ngã gây thuơng tích. Hồ Ngọc P đã bị xét xử về hành vi cố ý gây thương tích về trách nhiệm hình sự bản án đã có hiệu lực pháp luật Hồ Ngọc P đang phải chấp hành hình phạt. Phần bồi thường thiệt hại án phúc thẩm huỷ giao về Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường xét xử lại. Bản án số 21/2021/HSST ngày 18-10-2021 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường đã xét xử buộc Hồ Ngọc P bồi thường các chi phí trong việc điều trị thương tích, mất thu nhập giảm sút thu nhập và tổn thất tinh thần là phù hợp theo quy định tại các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự. Ông T kháng cáo yêu cầu trách nhiệm bồi thường về tổn thất tinh thần là 74.500.000đồng, mất thu nhập 72.000.000đồng là không phù hợp. Về yêu cầu kháng cáo yêu cầu bồi thường vá hộp sọ 120.000.000đồng khi ông T chưa thực hiện nên chưa có chứng từ thực tế nên án sơ thẩm tách ra khi ông T thực hiện có chứng từ thiệt hại cụ thể có quyền thoả thuận hoặc khởi kiện vụ án dân sự theo quy định là phù hợp theo quy định của pháp luật. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đại diện ông Hồ Ngọc P và ông Nguyễn Hữu T không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Nguyên đơn dân sự kháng cáo trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung vụ án: Hành vi của Hồ Ngọc P dùng tay đánh vào mặt ông T làm ông T ngã xuống đường vào tối ngày 02/6/2020 gây thương tích tại vùng đầu. Ông T được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An đêm 02/6/2020, điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy từ ngày 03/6/2020 đến ngày 14/6/2020, Bệnh viện Chỉnh hình và Phục hồi chức năng Tp Hồ Chí Minh từ ngày 14/6/2020 đến ngày 20/6/2020 thì xuất viện. Sau khi xuất viện, ngày 22/9/2020 ông T đến Bệnh viện Đa khoa Long An khám bệnh theo yêu cầu, chụp CLVT sọ não. Ông T nhập viện Bệnh viện Chợ Rẫy từ ngày 23/9/2020 đến ngày 28/9/2020, chuẩn đoán điều trị khuyết sọ trán hai bên, theo giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Chợ Rẫy là do bị tổn thương ổ của não (dập não trán thái dương hai bên - máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái, liềm não, lều tiểu não - tụ máu ngoài màng cứng chẩm phải- Tụ khí nội sọ- Vỡ nền sọ). Tại Bản án phúc thẩm số 47/2021/HSPT ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử về hình sự tuyên Hồ Ngọc P phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d Khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự, xử phạt 05 năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày chấp hành án; Hủy một phần bản án sơ thẩm số 34/2020/HSST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường về phần trách nhiệm dân sự. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường giải quyết phần trách nhiệm dân sự theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường tiếp tục xét xử sơ thẩm đối với Hồ Ngọc P về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe của ông T là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm 21/2021/HS-ST của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã xử: Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Nguyễn Hữu T đối với ông Hồ Ngọc P. Buộc ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 133.940.000 đồng. Bao gồm: Chi phí điều trị 16.720.000đồng sau khi trừ 30.652.200đồng Bảo hiểm xã hội đã thanh toán. Thu nhập bị mất trong thời gian điều trị và phục hồi sức khoẻ sau khi xuất viện là 14.800.000đồng. 6 tháng giảm rút thu nhập là 24.600.000đồng. Bồi dưỡng trong thời gian điều trị và phục hồi sức khoẻ là 4.000.000đồng. Chi phí thuê phương tiện đi lại là 5.200.000đồng. Tổn thất tinh thần 38 tháng lương cơ sở là 56.620.000đồng. Mất thu nhập của người nuôi trong thời gian điều trị và phục hồi sức khoẻ là 12.000.000đồng. Ông Nguyễn Hữu T đã nhận được số tiền bồi thường là 122.000.000 đồng nên buộc ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền là 11.940.000 đồng (Mười một triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Ông Nguyễn Hữu T kháng cáo yêu cầu ông Hồ Ngọc P bồi thường tổn thất tinh thần 50 tháng lương cơ sở 74.500.000đ, mất thu nhập từ ngày 02/6/2020 đến ngày 02/12/2020 là 72.000.000đ, tiền vá hộp sọ 120.000.000đ các khoản tiền khác khác ông T không kháng cáo. Tại phiên toà phúc thẩm các bên không thoả thuận được.
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T:
Về kháng cáo yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần: Bản án sơ thẩm đã Căn cứ Khoản 2 Điều 590 Bộ luật Dân sự thì mức bồi thường tổn thất tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Căn cứ Khoản 2 Điều 3 của Nghị định 38/2019/NĐ-CP thì mức lương cơ sở hiện nay là 1.490.000 đồng. Trong trường hợp của ông T tổn thất tinh thần được bồi thường do chịu đau thương của thương tích gây ra. Căn cứ trên mức tỷ lệ thương tích của ông T là 75%, và phần trình bày của ông T thì hiện nay tinh thần ông T vẫn tỉnh táo, sinh hoạt bình thường nhưng có giảm sút về sức khỏe so với trước khi bị thương tích nên án sơ thẩm xem xét chấp nhận mức bồi thường tương ứng 38 lần mức lương cơ sở với số tiền là 38 x 1.490.000 đồng = 56.620.000 đồng là phù hợp theo quy định của Bộ luật Dân sự. Nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo đòi bồi thường mất thu nhập là 50 tháng lương cơ sở với số tiền là 74.500.000đồng.
Về kháng cáo yêu cầu bồi thường mất thu nhập: Ông T yêu cầu Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường mất thu nhập từ ngày 02/6/2020 đến ngày 02/12/2020 là 72.000.000đ. Án sơ thẩm đã xác định trước khi bị thương tích thì ông T làm thợ sơn và đang được ông Nguyễn Hoàng Trụ Vũ thuê, tiền công 400.000 đồng/ngày, mỗi tuần nghỉ ngày chủ nhật. Trước khi bị đánh thì đang làm cho ông Vũ được 02 tháng. Nên đã chấp nhận mức bồi thường thu nhập thực tế ông T bị mất là 400.000 đồng/ngày là có căn cứ. Về thời gian được tính mất thu nhập án sơ thẩm đã căn cứ tài liệu ông T điều trị tại bệnh viện từ đêm ngày 02/6/2020 đến ngày 20/6/2020 là 18 ngày, trong đó có 02 ngày chủ nhật nên số ngày bị mất thu nhập là 16 ngày, thành tiền: 16 ngày x 400.000 đồng = 6.400.000 đồng là có căn cứ thực tế.
Ngoài ra, ngày 22/9/2020 ông T đến khám tại Bệnh viện đa khoa Long An, từ ngày 23/9/2020 đến ngày 28/9/2020 nhập viện điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy, tổng cộng 07 ngày, trong đó có 01 ngày chủ nhật nên số ngày bị mất thu nhập là 06 ngày, thành tiền 2.400.000 đồng là phù hợp với chứng cứ thực tế.
Theo hồ sơ bệnh án khi ông T xuất viện, bác sĩ không có lời khuyên dặn cần phải nghỉ ngơi bao nhiêu ngày để phục hồi sức khỏe. Án sơ thẩm căn cứ trên mức độ thương tích chấp nhận cho ông T thêm 15 ngày nghỉ ngơi không lao động tính từ ngày tiếp theo ngày xuất viện (tức từ 21/6/2021 đến 05/7/2021) nên án sơ thẩm xác định thiệt hại mất thu nhập là 15 ngày x 400.000 đồng = 6.000.000 đồng là phù hợp.
Từ đó, án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại mất thu nhập là: 6.400.000 đồng + 2.400.000 đồng + 6.000.000 đồng = 14.800.000 đồng là có căn cứ theo quy định của Bộ luật Dân sự và căn cứ thực tế.
Về thu nhập bị giảm sút: Ông T yêu cầu bồi thường toàn bộ thiệt hại mất thu nhập trong 06 tháng là không có căn cứ, vì ngoài thời gian điều trị, tái khám, nghỉ ngơi sau khi xuất viện, thì thời gian còn lại ông T vẫn có thể tìm kiếm một công việc khác phù hợp với sức khỏe để có thu nhập nhưng ông T không làm. Như vậy phần thiệt hại xảy ra do ông T không áp dụng biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại theo Khoản 5 Điều 585 Bộ luật Dân sự không có căn cứ được bồi thường. Án sơ thẩm đã xác định hiện nay ông T vẫn chưa vá hộp sọ nên sức khỏe bị giảm sút so với ban đầu là có thực, nên đã xem xét chấp nhận cho ông T được bồi thường một phần thiệt hại thu nhập bị giảm sút do không thể lao động công việc như trước đây theo mức 200.000 đồng/ngày là có căn cứ. Về thời gian ông T yêu cầu bồi thường là 06 tháng tính từ khi bị thương tích (tức từ ngày 02/6/2020 đến ngày 02/12/2020), tuy nhiên án sơ thẩm đã xác định ông T đã được bồi thường mất thu nhập từ ngày 03/6/2020 đến 20/6/2020 (thời gian điều trị), từ ngày 21/6/2020 đến 05/7/2020 (thời gian nghỉ ngơi sau khi xuất viện), từ ngày 22/9/2020 đến ngày 28/9/2020 (thời gian tái khám, nhập viện). Nên thời gian còn lại được bồi thường thu nhập bị giảm sút (không tính ngày chủ nhật) là: Tháng 7 tính từ ngày 06 đến 31/7/2020 là 23 ngày, tháng 8/2020 là 26 ngày, tháng 9/2020 là 20 ngày, tháng 10/2020 là 27 ngày, tháng 11/2020 là 25 ngày, tháng 12/2020 là 02 ngày. Tổng số 123 ngày, thành tiền: 123 x 200.000 đồng = 24.600.000 đồng là có căn cứ phù hợp theo quy định của Bộ luật Dân sự và chứng cứ thực tế.
Về yêu cầu bồi thường chi phí vá xương sọ: Án sơ thẩm đã xem xét Tại Văn bản số 1423/BVCR-KHTH ngày 18/8/2021 của Bệnh viện Chợ Rẫy thì số tiền dự kiến để bệnh nhân được phẫu thuật vá lại xương sọ khuyết vùng trán hai bên khoảng từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (nếu được hưởng chế độ bảo hiểm đúng tuyến) và khoảng từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng (nếu không có báo hiểm y tế). Ông T trình bày và yêu cầu chi phí 120.000.000 đồng tại phiên tòa các bên không thỏa thuận được mức bồi thường. Án sơ thẩm đã xác định thiệt hại được bồi thường phải là “thiệt hại thực tế” xảy ra, trong khi ông T chưa vá hộp sọ, phần chi phí này thực tế chưa xảy ra nên chưa có cơ sở xem xét nên án sơ thẩm không xem xét trong vụ án này, sau này ông T được phẫu thuật vá lại xương sọ, tốn chi phí thì có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự theo quy định pháp luật là phù hợp theo quy định tại Khoản 1 Điều 585 Bộ luật Dân sự. Tại phiên toà Phúc thẩm các bên không thoả thuận được nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo yêu cầu giải quyết việc bồi thường chi phí vá xương sọ của ông T.
Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy các khoản bồi thường thiệt hại của bản án sơ thẩm mà ông T kháng cáo cũng như các khoản bồi thường thiệt hại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo án sơ thẩm đã xét xử là có căn cứ theo quy định của Bộ luật dân sự và có căn cứ khách quan nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T. Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T, Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Ông Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T; Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 21/2021/HS-ST ngày 18-10-2021 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Nguyễn Hữu T đối với ông Hồ Ngọc P.
Tuyên: Ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Hữu T số tiền 133.940.000 đồng. Ông Nguyễn Hữu T đã nhận được số tiền bồi thường là 122.000.000 đồng nên buộc ông Hồ Ngọc P có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 11.940.000 đồng (Mười một triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Ông Nguyễn Hữu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục Phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDCC tại TP.HCM (1); - VKSNDCC tại TP.HCM (1); - VKSND tỉnh Long An (1); - STP tỉnh Long An (1); - TAND huyện (2); - VKSND huyện (1); - Chi cục THADS huyện (1); - Bị cáo (1); - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Nhậm |