vanban.org

Bản án 72/2022/HNGĐST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Trúc Viên B và anh Trần Linh G.

Chị Trần Thị Trúc Viên B được ly hôn anh Trần Linh G. Quan hệ hôn nhân của chị B, anh G chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: có 03 con chung tên Trần Duy T, sinh ngày 04/7/2003; Trần Bình T, sinh ngày 26/05/2005 và Trần Ngọc Như M, sinh ngày 18/11/2019. Cháu T đã trưởng th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Trúc Viên B xin ly hôn anh Trần Linh G"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Trúc Viên B và anh Trần Linh G.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 04/8/2022.
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tuấn Khanh.

2. Ông Võ Minh Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thảo Loan- Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2022/QĐXXST -HN ngày 17 tháng 6 năm 2022 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trúc Viên B, sinh năm 1985. (có đơn xin giải quyết vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T2, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Trần Linh G, sinh năm 1978. (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T2, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/11/2021 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Trần Thị Trúc Viên B trình bày:

Chị và anh Trần Linh G chung sống với nhau năm 2002, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: có 03 con chung tên Trần Duy T, sinh ngày 04/7/2003; Trần Bình T, sinh ngày 26/05/2005 và Trần Ngọc Như M, sinh ngày 18/11/2019. Trần Duy T đã trưởng thành, chị B yêu cầu được nuôi hai con là Trần Bình T và Trần Ngọc Như M, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Vụ kiện đã được Tòa án mở phiên hoà giải nhưng không hoà giải được do anh G không đến. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: về tố tụng: không vi phạm tố tụng; về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Chị Trần Thị Trúc Viên B có đơn yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt, anh Trần Linh G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị B, anh G là phù hợp với Điều 227, 288 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Trúc Viên B và anh Trần Linh G chung sống với nhau năm 2002, trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống có hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân được chị B xác định do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị và anh G đã sống ly thân nhau từ thời gian đó cho đến nay. Từ lúc ly thân nhau cho đến nay mỗi người đều có cuộc sống độc lập, không ai quan tâm đến ai, Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để chị B và anh G đoàn tụ nhưng anh G không đến. Hôn nhân giữa chị B và anh G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B yêu cầu ly hôn với anh G là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: có 03 con chung tên Trần Duy T, sinh ngày 04/7/2003; Trần Bình T, sinh ngày 26/05/2005 và Trần Ngọc Như M, sinh ngày 18/11/2019. Chị B yêu cầu được nuôi hai con là Trần Bình T và Trần Ngọc Như M, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy: để đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung, cần giao con cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Ghi nhận chị B nuôi con không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị B khai không có nên không xét đến.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Thị Trúc Viên B phải chịu án phí là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Trúc Viên B và anh Trần Linh G.

Chị Trần Thị Trúc Viên B được ly hôn anh Trần Linh G. Quan hệ hôn nhân của chị B, anh G chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: có 03 con chung tên Trần Duy T, sinh ngày 04/7/2003; Trần Bình T, sinh ngày 26/05/2005 và Trần Ngọc Như M, sinh ngày 18/11/2019. Cháu T đã trưởng thành nên không xét đến. Giao con chung là Trần Bình T và Trần Ngọc Như M chị B tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận việc chị B nuôi con không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Anh G được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: chị B khai không có, nên không xét đến.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Thị Trúc Viên B phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005875 ngày 17/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Chị B đã nộp đủ án phí.

Chị B, anh G vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ