- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: xử cho chị Lê Thị Hằng N được ly hôn anh Nguyễn Hồng H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TØnh NghÖ an | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2022 “ Về tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Lê Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Công Thẩm, bà Nguyễn Thị Xuân Oanh
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Võ Thị Kiều Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 220/2022/TLST- HNGĐ ngày 8 tháng 6 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/QĐST-HNGĐ ngày 16/8/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hằng N – sinh năm 1973
ĐKNKTT: xóm 15, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An – có mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng H - Sinh năm 1969
ĐKNKTT: xóm 15, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Chỗ ở: ngõ 10, đường Đinh Nhật Thận, khối Tân Hòa, phường Vinh Tân, thành phố Vinh – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau:
Chị Lê Thị Hằng N và anh Nguyễn Hồng H lấy nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/11/1992. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại khối 15, xã Nghi Phú, thành phố Vinh. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nhưng đến năn 2020 thì mâu thuẫn bắt đầu căng thẳng. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không phù hợp tính tình, quan điểm sống nên trong cuộc sống hàng ngày thường phát sinh mâu thuẫn và có nhiều lúc đã xúc phạm, đánh đập dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đã nhiều lần chị N làm đơn ly hôn nhưng anh H đã hứa sẽ thay đổi vì con chị cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn thì mâu thuẫn lại càng căng thẳng hơn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 1 năm 2021 đến nay. Chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã kéo dài và trầm trọng nên xin được ly hôn với anh H.
Về con chung vợ chồng có 2 con chung là Nguyễn Lê Nam A, sinh ngày: 10/9/1993 và Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 22/5/2011. Nay ly hôn chị N yêu cầu được nuôi con chung là cháu Bảo T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Lê Nam A đã đủ tuổi trưởng thành nên ở với ai do con quyết định. Về tài sản chị N không yêu cầuTòa án giải quyết.
Về nợ : Vợ chồng không có nợ chung, chị N cũng không có khoản nợ riêng nào.
Anh Nguyễn Hồng H đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát Thành phố Vinh phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết đúng vụ án đúng quy định tại điều 28, điều 35 BLTTDS; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định. Hội đồng xét xử cũng đã tuân thủ đúng các quy định của BLTTDS.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 51, 53, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho Lê Thị Hằng N được ly hôn anh Nguyễn Hồng H. Về con: Vợ chồng có 2 con chung Nguyễn Lê Nam A, sinh ngày: 10/9/1993 và Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 22/5/2011. Nay ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết anh H không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải cũng không có ý kiến gì. Vì vậy, cần giao con chung là Nguyễn Thị Bảo T cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh H do chị N không yêu cầu. Về tài sản: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, quan điểm của đại diện VKS, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:
1. Về thủ tục tố tụng: đây là vụ án tranh chấp ly hôn và yêu cầu nuôi con, bị đơn là anh Nguyễn Hồng H có hộ khẩu thường trú tại xóm 15, xã Nghi Phú, thành phố Vinh nên giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Sau khi thụ lý Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh H hợp lệ, đúng quy định pháp luật nhưng anh H vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 điều 28, điều 147, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 BLTTDS để giải quyết vụ án.
2. Về nội dung vụ án: chị N, anh H lấy nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/11/1992. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 1/2021, anh H về nhà bố mẹ đẻ sống còn chị N và các con sống tại nhà riêng của vợ chồng. Chị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn và mâu thuẫn đã rất trầm trọng không thể sống chung với nhau được nữa nên làm đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án mở phiên hòa giải nhiều lần nhưng anh H vẫn vắng mặt không có ý kiến gì, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng. Chị N kiên quyết xin ly hôn để ổn định cuộc sống. Xét mâu thuẫn giữa chị N và anh H đã rất trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Quá trình chung sống chị N, anh H có 2 con chung là Nguyễn Lê Nam A, sinh ngày: 10/9/1993 và Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 22/5/2011. Nay ly hôn chị N có nguyện vọng được nuôi con chung là Nguyễn Thị Bảo T cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét nguyện vọng của chị N là phù hợp với nguyện vọng của cháu Nguyễn Thị Bảo T. Mặt khác anh H không có ý kiến gì. Để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con nên giao cháu Trâm cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là phù hợp. đối với con chung là Nguyễn Lê Nam A đã đủ tuổi trưởng thành nên ở với ai do con quyết định.
- Về cấp dưỡng nuôi con: quá trình giải quyết vụ án chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên cần tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh H.
- Về quyền thăm nom, gặp gỡ và chăm sóc con chung sau khi ly hôn: anh H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom và chăm sóc, gặp gỡ con chung chị N và người thân trong gia đình không ai được ngăn cấm.
- Về tài sản: chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các điều 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, điều 147, khoản 3 điều 228, điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử:
- Về quan hệ tình cảm: xử cho chị Lê Thị Hằng N được ly hôn anh Nguyễn Hồng H.
- Về con chung: giao con chung là Nguyễn Thị Bảo T, sinh ngày 22/5/2011 cho chị Lê Thị Hằng N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh H do chị N không yêu cầu.
Anh H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và gặp gỡ con chung, chị N và người thân trong gia đình không ai được ngăn cấm.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: chị Lê Thị Hằng N phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ do đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Vinh theo biên lai nộp tiền số 0010125 ngày 7 tháng 6 năm 2022.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị N có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Anh H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ./. Nơi gửi:
| - VKSNDTP.Vinh - Các Đương sự - Lưu HS - TAND tỉnh Nghệ An - UBND P Lê Mao ( nơi ĐKKH) | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoài |