- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị X - Nguyễn Thanh N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Phạm Thị Xuân được ly hôn anh Nguyễn Thanh Ngọc.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST Ngày: 14 - 9 - 2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Kim Bình
Bà Phạm Thị Diệu
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 57/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị X; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hoá.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh N; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thôn 6, xã S, huyện L, tỉnh Thanh Hoá.
Tại phiên toà vắng mặt chị X, anh N. Chị X đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị X trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh N kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 08/10/2010 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã T, huyện L, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra, thỉnh thoảng khi vợ chồng cãi nhau anh N còn đánh đập chị. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09/2014 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh N.
Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là Nguyễn Thị Thuỳ L, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức A, sinh ngày 19/3/2015. Hiện các cháu đang ở với chị. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng. Vì chị xét thấy chị có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm lo đầy đủ cho các con.
Về tài sản: Chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Thanh N để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị X nhưng anh N không có mặt nên không có lời khai của anh N và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị L là mẹ đẻ của anh N, bà L đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết giao ngay, tận tay cho anh N.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị Xuân đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh N không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Chị X có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Phạm Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thanh N. Giao cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thuỳ L, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức A, sinh ngày 19/3/2015. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thanh N đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn 6, xã S, huyện L, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Chị Phạm Thị X đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Thanh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt chị X, anh N ttheo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh N có đăng ký kết hôn ngày 08/10/2010 tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Thanh Hoá là hôn nhân hợp pháp.
Đánh giá thực trạng về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị không tìm ra biện pháp khắc phục mà đã sống ly thân từ tháng 09/2014 đến nay. Chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn. Về phía anh N biết việc chị X làm đơn xin ly hôn và Toà án đã ra thông báo thụ lý vụ án, nhưng anh N không đến Toà án làm việc, không giao nộp văn bản nêu ý kiến, mặc dù đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và không đến tham gia phiên toà. Điều này thể hiện anh N không quan tâm đến hạnh phúc gia đình và có ý bỏ mặc. Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị X đối với anh N là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị X và anh N có 02 con chung là Nguyễn Thị Thuỳ L, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức A, sinh ngày 19/3/2015. Hiện đang sống cùng với chị X. Nguyện vọng của chị X khi ly hôn: chị là người trực tiếp nuôi hai cháu. Các cháu có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. HĐXX xét thấy, để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, cũng như theo nguyện vọng của các cháu, chấp nhận yêu cầu của chị X, giao cả hai cháu cho chị X trực tiếp nuôi.
Về cấp dưỡng: Chị X không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản: Chị X không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Phạm Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thanh N
2. Về con chung: Giao cho chị X trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thuỳ L, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức A, sinh ngày 19/3/2015. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000168 ngày 15/6/2022. Chị X đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị X, anh N. Chị X, anh N có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
(Đã ký)
- UBND xã Minh Tiến;
- Chi cục THADS huyện;
- Lưu.
Nguyễn Văn Tình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN NGỌC LẶC
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH THANH HOÁ
Bản án số: 72/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 9 - 2022 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Kim Bình
Bà Phạm Thị Diệu
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Thịnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2022 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 57/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Xuân; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Thôn Minh Thành, xã Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Ngọc; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Thôn 6, xã Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.
Tại phiên toà vắng mặt chị Xuân, anh Ngọc. Chị Xuân đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Ngọc vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/5/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Phạm Thị Xuân trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh Ngọc kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 08/10/2010 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Ngoài ra, thỉnh thoảng khi vợ chồng cãi nhau anh Ngọc còn đánh đập chị. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 09/2014 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Ngọc.
Về con chung: Chị và anh Ngọc có 02 con chung là Nguyễn Thị Thuỳ Linh, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 19/3/2015. Hiện các cháu đang ở với chị. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con và không yêu cầu anh Ngọc phải cấp dưỡng. Vì chị xét thấy chị có công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm lo đầy đủ cho các con.
Về tài sản: Chị Xuân không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Thanh Ngọc để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Xuân nhưng anh Ngọc không có mặt nên không có lời khai của anh Ngọc và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án. Toà án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị Lan là mẹ đẻ của anh Ngọc, bà Lan đã nhận đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án và cam kết giao ngay, tận tay cho anh Ngọc.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị Xuân đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh Ngọc không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Chị Xuân có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Ngọc triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt cả hai bên đương sự theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 BLTTDS. Về giao nhận, tống đạt văn bản tố tụng Toà án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Phạm Thị Xuân được ly hôn anh Nguyễn Thanh Ngọc. Giao cho chị Xuân trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thuỳ Linh, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 19/3/2015. Anh Ngọc không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Xuân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thanh Ngọc đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn 6, xã Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Chị Phạm Thị Xuân đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Thanh Ngọc đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên hoà nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án xét xử vắng mặt chị Xuân, anh Ngọc theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS.
Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa chị Xuân và anh Ngọc có đăng ký kết hôn ngày 08/10/2010 tại UBND xã Minh Tiến, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá là hôn nhân hợp pháp.
Đánh giá thực trạng về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Khi xảy ra mâu thuẫn anh chị không tìm ra biện pháp khắc phục mà đã sống ly thân từ tháng 09/2014 đến nay. Chị Xuân xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn. Về phía anh Ngọc biết việc chị Xuân làm đơn xin ly hôn và Toà án đã ra thông báo thụ lý vụ án, nhưng anh Ngọc không đến Toà án làm việc, không giao nộp văn bản nêu ý kiến, mặc dù đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và không đến tham gia phiên toà. Điều này thể hiện anh Ngọc không quan tâm đến hạnh phúc gia đình và có ý bỏ mặc. Xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung đã chấm dứt, mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc, bền vững không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Xuân đối với anh Ngọc là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Xuân và anh Ngọc có 02 con chung là Nguyễn Thị Thuỳ Linh, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 19/3/2015. Hiện đang sống cùng với chị Xuân. Nguyện vọng của chị Xuân khi ly hôn: chị là người trực tiếp nuôi hai cháu. Các cháu có nguyện vọng muốn được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. HĐXX xét thấy, để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, cũng như theo nguyện vọng của các cháu, chấp nhận yêu cầu của chị Xuân, giao cả hai cháu cho chị Xuân trực tiếp nuôi.
Về cấp dưỡng: Chị Xuân không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản: Chị Xuân không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Xuân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu, chị Phạm Thị Xuân được ly hôn anh Nguyễn Thanh Ngọc.
2. Về con chung: Giao cho chị Xuân trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng Nguyễn Thị Thuỳ Linh, sinh ngày 27/6/2012 và Nguyễn Đức Anh, sinh ngày 19/3/2015. Anh Ngọc không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Ngọc có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Xuân phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, theo biên lai số AA/2021/0000168 ngày 15/6/2022. Chị Xuân đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Xuân, anh Ngọc. Chị Xuân, anh Ngọc có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - Các đương sự; - UBND xã Minh Tiến; - Chi cục THADS huyện; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tình |