- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V "Tranh chấp hợp đồng vay" Nguyễn Thị Bạch T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V. Buộc Bà Nguyễn Thị Bạch T có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V số tiền nợ gốc là 32.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2022/DS-ST Ngày 30-9-2022 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Hải.
2. Bà Trịnh Thị Lệ Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 181/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2022/QĐXXST- DS ngày 26 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V.
Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 09 Đường Đ, Phường K, Quận D, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Trần Trường G, sinh năm 1988
Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà R, số 09 Đường Đ, Phường K, Quận D, Thành phố H.
(Theo văn bản ủy quyền số 17/UQTA- XLTD.22 ngày 23/6/2022).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bạch T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: số 633 ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh L.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V do ông Trần Trường G đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 14/11/2019, bà Nguyễn Thị Bạch T có ký hợp đồng tín dụng số 20191116-5932725 với công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V vay số tiền 56.611.750 đồng với lãi suất thỏa thuận 3,5%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bà T có trách nhiệm thanh toán số tiền 56.611.750 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 24 tháng. Trong 23 tháng đầu mỗi tháng trả 2.299.424 đồng, tháng cuối trả 3.724.998 đồng, bắt đầu trả từ ngày 02/01/2020.
Thực hiện hợp đồng, bà T đã nhận đủ tiền để tiêu dùng cá nhân theo và thanh toán cho công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V được 06 lần với tổng cộng số tiền là 11.560.000 đồng. Kể từ ngày 04/6/2020 đến nay, bà T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.
Do Bà T trễ hạn thanh toán, vi phạm hợp đồng nên công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V toàn bộ số tiền nợ bao gồm: gốc là 32.248.838 đồng và lãi là 12.802.912 đồng. Tổng cộng là 45.051.750 đồng.
Nguyên đơn công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V do ông Trần Trường G đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn Bà Nguyễn Thị Bạch T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T vắng mặt không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định Bà T có vay Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên V số tiền 56.611.750 đồng, sau khi vay bà T chỉ thanh toán cho công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V số tiền 11.560.000 đồng và không tiếp tục thanh toán theo kỳ hạn đã thỏa thuận, đã để nợ quá hạn, tính đến nay bà T còn nợ công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V số tiền gốc và lãi là 45.051.750 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Thị Bạch T làm phát sinh tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị Bạch T là bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố T, tỉnh L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.
Tại phiên tòa, Bà Nguyễn Thị Bạch T vắng mặt. Tuy nhiên, bà T đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập Bà T đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng Bà T không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà T là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V do ông Trần Trường G đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị Bạch T đã được Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V giải ngân cho vay số tiền 56.611.750 đồng theo hợp đồng tín dụng số 20191116-5932725 ngày 14 tháng 11 năm 2019, khi vay có thống nhất thỏa thuận lãi suất và số tiền phải thanh toán là 56.611.750đ (gồm cả gốc và lãi). Bà T chỉ thanh toán gốc và lãi được 06 lần với số tiền 11.560.000 đồng. Nhiều lần Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V đã nhắc nhở, tạo điều kiện cho Bà T trả nợ nhưng bà T vẫn cố tình né tránh, cho thấy bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo qui định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Do đó yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V là có cơ sở chấp nhận, cần buộc Bà T phải có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V số tiền gốc 32.248.838 đồng và lãi là 12.802.912 đồng. Tổng cộng là 45.051.750 đồng.
Về phương thức thanh toán: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V yêu cầu Bà Nguyễn Thị Bạch T trả toàn bộ số tiền nợ bao gồm gốc và lãi là 45.051.750 đồng, yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà T không có ý kiến thể hiện nên cần chấp nhận yêu cầu của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V về phương thức thánh toán.
Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.
Về án phí dân sự: Bà Nguyễn Thị Bạch T phải chịu 2.252.588 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại toàn bộ tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V. Buộc Bà Nguyễn Thị Bạch T có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V số tiền nợ gốc là 32.248.838 đồng và lãi là 12.802.912 đồng. Tổng cộng là 45.051.750 đồng (Bốn mươi lăm triệu, không trăm năm mươi mốt nghìn đồng, bảy trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Bạch T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.252.588 đồng (Hai triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm tám mươi tám đồng). Hoàn lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên V số tiền 1.126.000 đồng (Một triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001703 ngày 06/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh L.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND TP.T; - Chi cục THADS TP.T; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tố Loan |