vanban.org

Bản án 72/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 4, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/05/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Hà L 09 (chín) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2020.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hàn Thị B và mộc dấu của Công an Phường 6, Quận 4, bên trong có 01 con heo bằng đất, màu vàng, bị vỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hà L 09 (chín) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2020.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HS-ST
Ngày: 17-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thu Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt

2. Bà Đinh Kim Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Đăng Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thủy Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 138/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Hà L (tên gọi khác://), giới tính: Nữ; sinh ngày 30 tháng 5 năm 1995 tại Quảng Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn A, xã L, huyện Q, tỉnh Q; Nơi cư trú: Căn hộ 14.03 chung cư H, Số A, Phường S, Quận T, TP. H; nghề nghiệp: nhân viên Spa; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Hà Xuân H, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1973; Anh chị em: Có 01 em ruột sinh năm 2000; Hoàn cảnh gia đình: Chồng: Trương Công L, sinh năm 1987, con: Trương Bảo N, sinh năm 2017.

Tiền án: Không

Tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 06/02/2012, bị Công an Thành phố Đ, tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

- Ngày 12/11/2013, bị Tòa án nhân dân Thành phố Đ, Q xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 83/2013/HSST ngày 12/11/2013). Đã đóng án phí ngày 17/02/2014.

- Ngày 06/5/2015, bị Tòa án nhân dân Thành phố Đồ, Q xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp chung hình phạt với Bản án số 83/2013/HSST ngày 12/11/2013 đang chấp hành là 11 tháng 02 ngày tù. Đến ngày 29/02/2016, chấp hành xong. Đã đóng án phí ngày 06/8/2015.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/9/2020 (có mặt).

Bị hại: Chị Hàn Thị B, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Căn hộ X chung cư H\, Số N, Phường S, Quận T, TP. H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 14/9/2020, Hà L và B đi đến tiệm Spa T T tại địa chỉ số N Nguyễn Thái B, phường Nguyễn Thái B, Quận M để làm việc. Đến khoảng trưa cùng ngày, B nhờ Hà L lấy tiền trong ví tiền cầm tay hiệu LV, màu nâu (là ví tiền của B) để trong tủ đồ của tiệm Spa, để trả tiền hang giúp cho B. Sau khi trả tiền hàng xong, Hà L cất ví vào trong túi xách hiệu Chaler Khtte, màu đen (là túi xách của Hà L) rồi tiếp tục làm việc. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Hà L thấy mệt trong người nên đã đi về căn hộ của B trước để nghỉ ngơi. Khi về đến phòng ở thì Hà L mở túi xách phát hiện ví tiền cầm tay của B, nên Hà L nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản.

Để thực hiện ý định, Hà L mở ví tiền cầm tay của chị B ra xem, thấy chìa khóa tủ. Hà L đi đến phòng ngủ của B và mở tủ quần áo ra, phát hiện có 01 túi ny lông màu đen bên trong có 01 con heo bằng đất, màu vàng; 01 ví cầm tay, màu hồng, bên trong có các trang sức bằng vàng. Hà L cầm con heo bằng đất (vẫn để nguyên trong túi ny lông, màu đen) đập xuống đất làm bể phần bụng bên dưới của con heo đất thấy bên trong con heo có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và tiền đô la Mỹ (01 tờ loại 50 USD, 10 tờ loại 02 USD, 05 tờ loại 01 USD, 02 tờ loại 10 USD) nên Hà L đã lấy toàn bộ số tiền trên. Sau đó, Hà L tiếp tục mở ví cầm tay, màu hồng lấy toàn bộ số trang sức bằng vàng của chị B.

Sau đó, Hà L rời khỏi căn hộ, vứt bỏ toàn bộ tiền đô la Mỹ ở thùng rác gần thang máy của chung cư H3 rồi đi đến Ngân hàng Vietcombank tại địa chỉ số 11 Đoàn Văn B, Phường M, Quận B (bên hông cầu C Quận T) để nộp số tiền 285.000.000 đồng (270.000.000 đồng là tiền Hà L chiếm đoạt được trong con heo bằng đất và 15.000.000 đồng là tiền cá nhân của Hà L) vào số tài khoản X là tài khoản ngân hàng cá nhân của Hà L. Hà L quay lại tiệm Spa T T rồi trả lại ví tiền cầm tay hiệu LV, màu nâu (ví tiền của B) vào trong tủ đồ của B.

Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Hà L rời khỏi tiệm Spa T T rồi đi đến chợ B, Quận M để bán toàn bộ số trang sức mà Hà L đã lấy trộm. Hà L đến tiệm vàng T địa chỉ số X Nguyễn An NinNh, phường Bến T, Quận M để bán 01 miếng vàng hình con heo và 01 chiếc nhẫn trơn bằng kim loại, màu vàng (loại 9999, trọng lượng 02 chỉ vàng) với tổng giá tiền là 10.000.000 đồng. Sau đó, Hà L tiếp tục đi đến tiệm vàng VP, địa chỉ số 37 Phan Chu T, phường Bến T, Quận M, để bán 01 chiếc nhẫn hồ ly bằng vàng, 01 mặt dây chuyền có chữ Versace bằng vàng, 01 lắc tay bằng vàng, 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng vàng, nhẫn cưới và 01 đôi bông tai bằng vàng với tổng số tiền là 23.000.000 đồng.

Sau khi bán vàng xong, Hà L quay lại tiệm Spa T T cùng với B. Đến ngày 15/9/2020, Hà L đi đến Ngân hàng Vietcombank (kế bên tòa nhà F số 144 Cộng H, Quận B) để nộp số tiền 34.600.000 đồng (33.000.000 đồng là tiền do Hà L bán vàng mà có được và 1.600.000 đồng là tiền cá nhân của Hà L) vào số tài khoản XX cá nhân của L.

Ngày 17/9/2020, chị Hàn Thị B phát hiện mất tài sản nên đến Công an Phường S, Quận T trình báo vụ việc để Cơ quan Công an Phường S, Quận T làm rõ (Bút lục 89, 91).

Cùng ngày 17/9/2020, Hà L được mời về trụ sở Công an Phường S, Quận T để làm việc. Tại Cơ quan điều tra Công an Quận T, Hà L thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản như trên, lời khai của bị can Hà L phù hợp với lời khai bị hại và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 62-87).

Kết quả định giá trị tài sản số 155/KLĐG-HĐĐG ngày 19/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận T (Bút lục 32, 33), kết luận:

- 01 miếng vàng SJC, hình con heo, trọng lượng 01 chỉ vàng, loại vàng 9999 trị giá 5.653.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn trơn bàng vàng, trọng lượng 02 chỉ, loại vàng 9999 trị giá 10.930.000 đồng;

- 01 chiếc nhẫn hồ ly, trọng lượng 01 chỉ 61 phân, loại vàng 9999 trị giá 6.269.000 đồng;

- 01 mặt dây chuyền, có chữ Versace, trọng lượng 01 chỉ 172 phân, loại vàng 68% trị giá 3.920.000 đồng;

- 01 lắc tay, trọng lượng 02 chỉ, không xác định được giá trị;

- 01 dây cuyền và mặt dây chuyền, trọng lượng 02 chỉ 770 phân, loại vàng 68% trị giá 7.070.000 đồng;

- Nhẫn cưới và đôi bông tay, trọng lượng khoảng 01 chỉ 05 phân, không xác định được giá trị;

- 01 con heo bằng đất đã bị bể ở phần bụng, không xác định được giá trị;

- 01 tờ tiền mệnh giá 50 USD, trị giá 1.163.500 đồng;

- 10 tờ tiền mệnh giá 02 USD, trị giá 465.400 đồng;

- 05 tờ tiền mệnh giá 01 USD, trị giá 116.350 đồng;

- 02 tờ tiền mệnh giá 10 USD, trị giá 465.400 đồng.

Tổng giá trị tiền đô la Mỹ, vàng là: 36.052.650 đồng.

Ngày 21/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận T đã phong tỏa số tiền 315.531.694 đồng có trong tài khoản số 0311000723740 (là tài khoản ngân hàng của Hà L).

Qua làm việc, chị Hàn Thị B cho biết số tiền trong con heo bằng đất là do để dành tiền mà có được. Chị B xác định số tiền trong con heo khoảng gần 300.000.000 đồng (do chị B không ghi chú việc để dành tiền nên chị B không xác định rõ được số tiền có trong heo đất). Số vàng bị Hà L chiếm đoạt đúng như Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự.

Chị Trương Thị Thu T (sinh năm: 1960, ngụ: 90/88E Nguyễn Đình C, phường K, Quận M, chủ tiệm vàng VP) cho biết: Vào ngày 14/9/2020, Nguyễn Thị Tú T (không rõ lai lịch), là người làm thuê của chị T, tại tiệm vàng VP số 37 Phan Chu T, phường Bến T, Quận M, đứng ra kiểm tra những trang sức mà Hà L mang đến bán. T đã dùng số tiền lương của T mua những trang sức bằng vàng (01 chiếc nhẫn hồ ly bằng kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền có chữ Versace bằng kim loại màu vàng, 01 lắc tay bằng vàng, 01 sợi dây chuyền và mặt dây chuyền bằng vàng, nhẫn và 01 đôi bông tai bằng vàng) của L với số tiền là 23.000.000 đồng. Sau đó, T bán cho người khác số trang sức trên nên Cơ quan điều tra Công an Quận T không thu hồi được. Hiện, T đã không còn làm việc tại tiệm vàng VP nên Cơ quan điều tra Công an Quận T chưa làm việc được với T.

Anh Nguyễn Kim T (sinh năm: 1958, ngụ: 166D Trần Hưng Đ, phường Nguyễn Cư T, Quận M, chủ tiệm vàng HT) cho biết: vào khoảng 16 giờ 00 ngày 14/9/2020, L có đem 01 miếng vàng hình con heo và 01 chiếc nhẫn trơn bằng vàng đến tiệm vàng HT, địa chỉ số 02 Nguyễn An N, phường Bến TThành, Quận M để bán số vàng trên. Cơ quan điều tra Công an Quận T đã tiến hành đối chất giữa bị can L và anh Nguyễn Kim T. Hà L xác định bán số vàng trên tại tiệm vàng HT số vàng trên. Anh T cho biết L có đến tiệm vàng HT để bán vàng nhưng sau khi kiểm tra vàng, anh T thương lượng với L về giá cả, mua nhưng hai bên do không thỏa thuận được, nên anh T không mua L bán vàng cho ai, anh T không biết, nên Cơ quan điều tra Công an Quận T không có cơ sở để thu hồi số vàng trên tại tiệm vàng HT.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hàn Thị B và mộc dấu của Công an Phường S, Quận T, bên trong có 01 con heo bằng đất, màu vàng, bị vỡ ở phần bụng; 01 ví cầm tay màu hồng, có in hoa văn màu trắng; 01 chìa khóa bằng kim loại, màu trắng, có dòng chữ XiaoBoshi và số 752 (Bút lục 35);

- 01 (một) đĩa CD bên trong có chứa dữ liệu được trích xuất từ camera tại tiệm vàng VP, Quận M và ghi nhận quá trình L buôn bán vàng, kèm theo hồ sơ vụ án.

Về phần dân sự: Chị Hàn Thị B yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 350.000.000 đồng (Bút lục 112-124).

Chị Trương Thị Thu T và anh Nguyễn Kim T không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 79/CTr-VKS ngày 08/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận T truy tố bị cáo Hà L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 trình bày lời luận tội: Cáo trạng số 79/CTr-VKS ngày 08/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 truy tố bị cáo Hà L về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hà L từ 08 năm đến 09 năm tù; Buộc bị cáo Hà L bồi thường cho bị hại chị Hàn Thị B số tiền 306.052.650 (ba trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi) đồng trích từ tài khoản phong tỏa của bị cáo Hà L để thi hành.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hàn Thị B và mộc dấu của Công an Phường S, Quận T, bên trong có 01 con heo bằng đất, màu vàng, bị vỡ ở phần bụng;

- Trả lại cho chị Hàn Thị B 01 ví cầm tay màu hồng, có in hoa văn màu trắng; 01 chìa khóa bằng kim loại, màu trắng, có dòng chữ XiaoBoshi và số 752.

- Tiếp tục lữu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD bên trong có chứa dữ liệu được trích xuất từ camera tại tiệm vàng VP, Quận M và ghi nhận quá trình bị cáo L buôn bán vàng.

Phần tranh luận: Bị cáo Hà L không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Hà L biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hà L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 14 giờ ngày 14/9/2020, tại căn hộ 14.03 chung cư H3 số 384 Hoàng D, Phường S, Quận T, bị cáo Hà L đã lén lút chiếm đoạt của chị Hàn Thị B bao gồm: số tiền Việt Nam là 270.000.000 đồng, tiền đô la Mỹ và số vàng có trị giá là 36.052.650 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 306.052.650 đồng. Hành vi của Hà L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an. Bị cáo có nhân thân xấu. Để có tác dụng giáo dục và răn đe, căn cứ vào tính chất nguy hiểm của tội phạm cần có mức án tương xứng để xử phạt. Tuy nhiên, xét bị cáo thành khẩn khai báo, nên khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về phần xử lý vật chứng:

- 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hàn Thị B và mộc dấu của Công an Phường S, Quận T, bên trong có 01 con heo bằng đất, màu vàng, bị vỡ ở phần bụng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 ví cầm tay màu hồng, có in hoa văn màu trắng và 01 chìa khóa bằng kim loại, màu trắng, có dòng chữ XiaoBoshi và số 752 là tài sản của chị Hàn Thị B nên cần trả lại cho chị B;

- 01 (một) đĩa CD bên trong có chứa dữ liệu được trích xuất từ camera tại tiệm vàng Vĩnh Phát, Quận 1 và ghi nhận quá trình bị cáo L buôn bán vàng, kèm theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục lữu giữ trong hồ sơ vụ án.

. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Hàn Thị B yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 350.000.000 đồng, gồm khoảng gần 300.000.000 đồng chị B để dành tiền trong heo đất, nhưng chị B cũng không xác định được chính xác là bao nhiêu tiền và số vàng bị cáo Hà L chiếm đoạt đúng như kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Ngoài ra, chị B không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh cho yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 350.000.000 đồng là có cơ sở. Tại phiên tòa, bị cáo Hà L chỉ thừa nhận đã lén lút chiếm đoạt của chị Hàn Thị B số tiền Việt Nam là 270.000.000 đồng, tiền đô la Mỹ và số vàng có trị giá là 36.052.650 đồng, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 306.052.650 đồng. Do đó, bị cáo Hà L chỉ đồng ý bồi thường cho chị B 306.052.650 đồng là phù hợp với giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt theo kết luận định giá trị tài sản số 155/KLĐG-HĐĐG ngày 19/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 4 nên Hội đồng xét xử chấp nhận buộc bị cáo Hà L phải bồi thường cho chị Hàn Thị B số tiền 306.052.650 (ba trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi) đồng.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Hà L 09 (chín) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày 17/9/2020.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của Hàn Thị B và mộc dấu của Công an Phường 6, Quận 4, bên trong có 01 con heo bằng đất, màu vàng, bị vỡ ở phần bụng;

- Trả lại cho chị Hàn Thị B 01 ví cầm tay màu hồng, có in hoa văn màu trắng; 01 chìa khóa bằng kim loại, màu trắng, có dòng chữ XiaoBoshi và số 752.

- Tiếp tục lữu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD bên trong có chứa dữ liệu được trích xuất từ camera tại tiệm vàng Vĩnh Phát, Quận 1 và ghi nhận quá trình bị cáo Ly buôn bán vàng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2021 giữa Công an Quận 4 với Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015

Buộc bị cáo Hà L phải bồi thường cho chị Hàn Thị B 306.052.650 đồng (ba trăm lẻ sáu triệu, không trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm năm mươi) đồng, trích từ tài khoản phong tỏa số 0311000723740 của bị cáo Hà L tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Bình (Vietcombank Quảng Bình) để thi hành.

- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Về Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 15.303.000 (mười lăm triệu ba trăm lẻ ba nghìn) đồng;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nôi nhaän:

Cỡ chữ