- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Lệnh Thực - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2021/HS-ST Ngày 11- 6 -2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sái Đức Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh; Bà Chu Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hoàng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2021/TLST-HS, ngày 12 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2021/HSST-QĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2021, đối với bị cáo:
Họ và tên Vũ Lệnh T, sinh năm 1976.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm M, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Lệnh C và bà Vũ Thị Q (đều đã chết); Vợ: Phạm Thị N, sinh năm 1980 và có 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2007); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 02; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 01/3/2018, bị Tòa án nhân dân huyện P ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 24(Hai mươi bốn) tháng.
Nhân thân: Ngày 27/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2021 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
Người chứng kiến:
1. Ông Dương Văn H, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Xóm N 2, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
2. Ông Dương Văn C, sinh năm 1964
Nơi cư trú: Xóm N 2, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 04/3/2021, Công an xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang Vũ Lệnh T, sinh năm 1976, trú tại: Xóm M, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại xóm N 2, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng do T đang cầm ở tay trái, theo T trình bày đó là ma tuý loại Heroine của T mang theo để sử dụng cho bản thân. Tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng sau đó niêm phong toàn bộ vào phong bì ký hiệu A1, xác định: Số chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng 0,120 gam (Không phẩy một trăm hai mươi gam). Lấy toàn bộ niêm phong vào bì thư (ký hiệu A1) gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định.
Tại bản kết luận giám định số 560/KL-KTHS ngày 12/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái nguyên, kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 thu giữ của Vũ Lệnh T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,120g (Không phẩy một trăm hai mươi gam).
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Lệnh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Do bị cáo là người nghiện chất ma tuý, vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/3/2021, T đi bộ một mình từ nhà sang khu vực xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T đã gặp một nam thanh niên không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể và mua được 01 gói ma túy (loại Heroine) được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá 100.000đồng. Nhận được ma túy, T ra về đến khu vực xóm N 2, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Cáo trạng số 80/CT-VKSPB ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố bị cáo Vũ Lệnh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện P sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Lệnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Vũ Lệnh T từ 24 đến 30 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A1) chứa ma túy loại Heroine được hoàn lại sau giám định.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái với pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai đó có căn cứ và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Vào hồi 12 giờ 20 phút ngày 04/3/2021, tại khu vực xóm N 2, xã Ú, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Vũ Lệnh T đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy (loại Heroine) có khối lượng 0,120 gam với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an xã Ú phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Vũ Lệnh T có đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng số 80/CT-VKSPB ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Về tính chất mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác... Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với một mức án nghiêm minh và cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu có 01 tiền sự, năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Quang Ninh xử phạt 18 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội tỏ ra coi thường pháp luật; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo phạm tội thành khẩn khai báo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét tính chất mức độ tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, việc làm và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,105 gam ma túy Heroine được hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1 cần tịch thu tiêu hủy.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên trong lời luận tội về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra quyết định tạm giam bị cáo Vũ Lệnh T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ, áp dụng pháp luật:
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 326 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Lệnh T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt Vũ Lệnh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04 tháng 3 năm 2021.
3. Ra quyết định tạm giam bị cáo Vũ Lệnh T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,105 gam (Không phẩy một trăm linh năm gam) ma tuý Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/5/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Lệnh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
6. Thông báo về quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo Vũ Lệnh T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND tỉnh Thái Nguyên; - VKS ND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Bị cáo; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Sái Đức Trung |