- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh X phạm tội: "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh X phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2021/HS-ST Ngày: 16-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Nam Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Văn Vinh.
2/ Ông Phạm Văn Úy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2021/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Thanh X, sinh năm 1977 tại: xã G, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn H, xã G, huyện N, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T và bà Hà Thị T (đã chết); có vợ là Đinh Thị C và 02 con; tiền án: không; tiền sự: ngày 13/4/2021 bị Công an xã H, huyện N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản; ngày 28/6/2021 bị Công an huyện Nga Sơn xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nữ H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn L, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: 1. Chị Bùi Thị T; vắng mặt.
2. Anh Phạm Văn S; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thanh X là người nghiện ma túy, do không có tiền nên X nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền mua ma túy về sử dụng. Khoảng 9 giờ ngày 23/8/2021, X đi bộ từ nhà đến xã Y với mục đích tìm nhà nào sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp. Khi X đi qua nhà chị Nguyễn Thị H ở thôn L, xã Y, nhìn qua cửa sổ thấy một chiếc điện thoại di động để trên bàn ở phòng khách. X trèo qua tường rào phía Nam vào trong phòng khách, quan sát không thấy ai trong nhà, X lấy chiếc điện thoại di động bỏ vào túi quần, rồi theo đường cũ nhảy tường ra ngoài. X đem chiếc điện thoại trộm cắp được đến một cửa hàng mua bán điện thoại di động gần cầu K (không nhớ cụ thể quán nào) ở thị trấn N, huyện N bán được 1.100.000 đồng, số tiền trên X dùng để mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân.
Tại kết luận định giá tài sản ngày 17/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Nga Sơn kết luận: 01(một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15, màu bạc, trị giá 2.800.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKSNS-KT ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Phạm Thanh X về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn giữ nguyên quan điểm kết tội đối với bị cáo theo tội danh, điều khoản đã nêu trong cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì thêm đối với nội dung vụ án. Sau khi phân tích, đánh giá toàn diện vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Phạm Thanh X từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
Bị cáo Phạm Thanh X hoàn toàn thừa nhận và khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, không có ý kiến gì đối với các văn bản tố tụng hình sự, cũng như lời khai của bị hại, những người làm chứng trong vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã gửi bài bào chữa cho bị cáo. Quan điểm của người bào chữa cơ bản thống nhất quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người khuyết tật nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt là 06 (sáu) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tội danh: Lời khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với đơn trình báo cũng như lời khai của bị hại, người làm chứng và các văn bản tố tụng hình sự khác, như: sơ đồ hiện trường vụ án; biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường; bản kết luận định giá tài sản … cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 9 giờ ngày 23/8/2021 lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình chị Nguyễn Thị H ở thôn L, xã Y, huyện N, Phạm Thanh X đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15, màu bạc, trị giá 2.800.000 đồng, rồi đem đến một cửa hàng mua bán điện thoại ở thị trấn N, huyện N bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân. Hành vi nêu trên của Phạm Thanh X đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo theo tội danh và khung hình phạt như bản cáo trạng là hoàn toàn thỏa đáng, đảm bảo căn cứ pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi ấy không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân đối với việc quản lý tài sản của gia đình.
Xét nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có hai tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản và Sử dụng trái phép chất ma túy, đều bị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là người bị khuyết tật nặng, phạm tội lần đầu, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người khuyết tật nặng, thành khẩn khai báo, người bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt và phòng ngừa tội phạm chung trong cộng đồng. Tuy nhiên, cần cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ TNHS nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo đạt lý, thấu tình, cũng như thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS vì bị cáo là người khuyết tật nặng, đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn đã truy tìm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme C15, màu bạc nhưng không có kết quả. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H số tiền trị giá chiếc điện thoại là 2.800.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên miễn xét.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định của BLTTHS.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, p, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh X phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh X 06(sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Phạm Thanh X phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 BLTTHS: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - Người bào chữa; - VKSND huyện Nga Sơn; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT CA huyện Nga Sơn; - Cơ quan THAHS CA huyện Nga Sơn; - Chi cục THADS huyện Nga Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Nam Tiến |