vanban.org

Bản án 72/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 21/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kh ng chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vương Thị H, về việc in giảm nhẹ hình phạt.

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vương Thị H, về việc xin được hưởng án treo. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân ân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Thị H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Kh ng chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vương Thị H, về việc in giảm nhẹ hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HS-PT
Ngày 21-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lâm.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Thành Hữu;

Ông Lê Thanh Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Ông Đào Tiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 64/2021/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo Vương Thị H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2021/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Vương Thị H, sinh năm 1963, tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): 03/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương U và bà Lâm Thị O; có chồng Yên P và 04 con; tiền án không, tiền sự không; nhân thân tốt; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14-12-2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bạch Sỹ C, Luật sư của Văn phòng luật sư B, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng cáo Tòa án không triệu tập gồm: Bị hại Vương Thị C1; Người làm chứng Lâm Thị Kim H1 và Lâm C2.

- Người phiên dịch tiếng Khmer: Bà Sơn Hồng V - Cán bộ hưu trí. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Vương Thị H và ị hại Vương Thị C1 là chị m ruột, c ng cư trú tại ấp T, T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, nhà ở liền vách với nhau. Trong cuộc sống hàng ngày, hai ên có ảy ra mâu thu n với nhau từ việc tranh chấp đất. Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22-3-2020, khi ông Lâm C2 (chồng bà C1 đang lợp mái tol nhà sau thì ị cáo đứng ở bên nhà mình nói qua với ng C2: “Sao l p mái tol mà không làm máng xối, đ trời mưa nư c ch y qua nhà tôi rồi sao” thì giữa ng C2 và ị cáo ảy ra cự c i; à C1 đang ở trong nhà ngh ị cáo chửi ng C2 nên đi ra; à C1 với ị cáo cự c i nhau, trong lúc c i nhau thì à C1 kêu ị cáo đi ra phía trước đánh nhau, à C1 lấy 01 khúc cây tr ở nhà sau của à c m trên tay phải đi qua nhà ị cáo, ị cáo cũng đi từ nhà sau ra nhà trước để đánh nhau với à C1. Khi ị cáo đi lên tới nhà trước thì thấy à C1 đang c m khúc cây tr trên tay đứng trước cửa nhà mình, ị cáo cũng c m lấy 01 cây ao, loại ao Thái Lan đang để s n trên àn trong nhà trước của ị cáo, ị cáo c m ao trên tay phải đứng đối iện với à C1, khoảng cách giữa hai người khoảng 1,5m. Khi à C1 tay phải c m khúc cây tr giơ lên định đánh ị cáo, nhưng chưa kịp đánh thì ị cáo c m ao trên tay phải phóng (chọi về phía à C1 làm cho lư i ao trúng vào c ng tay phải của à C1 gây thương tích. Ngay sau đó, ị cáo nhào ra ng hai tay nắm tóc à C1 k o uống làm cả hai t trên nền gạch trước hàng a nhà của ị cáo, lúc này con gái của à C1 là Lâm Thị Kim H1 (nhà ở đối iện với nhà ị cáo nhìn thấy mới đi qua can ngăn và đưa à C1 đi ệnh viện cấp cứu và điều trị.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 349/TgT-PY ngày 09-12-2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận: T lệ t n thương cơ thể của à C1 o thương tích gây nên là 14 ; T n thương o vật sắc gây nên; T n thương kh ng n m ở v ng gây nguy hiểm đến tính mạng; T n thương gây ảnh hưởng chức năng các ngón 2, 3, 4, 5 àn tay phải.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đ thu giữ 01 khúc cây tr đ kh , có t ng chiều ài 78cm, hai đ u ị g y kh ng r hình, đường kính ch rộng nhất là 3,5cm, ch nhỏ nhất là 2,5cm, trên khúc cây tr có ính chất ịch màu đỏ đ kh và 01 cây ao (loại ao Thái Lan có t ng chiều ài 28cm, ph n lư i ao ng kim loại màu trắng ài 16cm, có mũi nhọn, ch rộng nhất của lư i ao là 3,7cm, lư i ao một ề sắc n, một ề t , ph n cán ao ng nhựa màu đ n ài 12cm, đ u cán ao có một l tròn có đường kính 01cm, trên cán ao có khắc òng chữ KIWI, mũi ao có ính chất ịch màu đỏ đ kh .

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 31/2021/HS-ST ngày 23-6-2021 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đ quyết định: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử ụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên ố: Bị cáo Vương Thị H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt ị cáo Vương Thị H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày ắt ị cáo thi hành án. Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm ân sự, ử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng th o quy định của pháp luật.

Sau khi t ử sơ thẩm:

Đến ngày 07-7-2021, ị cáo Vương Thị H có đơn kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt, cho ị cáo được hưởng án tr o, với lý o: Sự việc ảy ra là có l i của ị hại Vương Thị C1, ị hại ng vào nhà tấn c ng ị cáo trước và trước khi sự việc ảy ra thì hai ên đ có mâu thu n về việc tranh chấp đất đai, ị hại đ nhiều l n đánh ị cáo làm cho ị cáo kh ng kiềm chế được.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Vương Thị H đ thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình như ản án sơ thẩm đ tuyên.

Người ào chữa cho ị cáo trình ày ào chữa: Cấp sơ thẩm tuyên ố ị cáo H phạm tội cố ý gây thương tích là có căn cứ. Tuy nhiên, ị cáo còn có các tình tiết giảm nhẹ sau đây mà cấp sơ thẩm chưa áp ụng để giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo, đó là nguyên nhân n đến ị cáo gây thương tích cho ị hại là o ị hại thách thức, qua nhà tấn c ng ị cáo trước n đến ị cáo ị kích động về tinh th n mà phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 ; tại phiên tòa sơ thẩm, ị hại cũng đ in giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 . Ngoài ra, sau khi t ử sơ thẩm, ị cáo đ tích cực ồi thường thiệt hại cho ị hại th o ản án sơ thẩm đ tuyên, cụ thể là vào ngày 14-9-2021, ị cáo đ nộp 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án ân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng, thể hiện sự ăn năn hối cải của ị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng t ử phúc thẩm m t giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo, đồng thời căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân ân tối cao, hướng n áp ụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án tr o thì ị cáo cũng đủ điều kiện để được hưởng án tr o nên đề nghị cấp phúc thẩm m t cho ị cáo được hưởng án tr o.

Kiểm sát viên đại iện cho Viện kiểm sát nhân ân tỉnh Sóc Trăng trình ày quan điểm: Kháng cáo của ị cáo H là hợp pháp. Về nội ung kháng cáo của ị cáo H, tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo có nộp chứng cứ thể hiện sau khi t ử sơ thẩm, ị cáo đ nộp 20.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án ân sự huyện M để ồi thường thiệt hại cho ị hại, thể hiện sự ăn năn hối cải của ị cáo nên ị cáo in giảm nhẹ hình phạt là có căn cứ; còn việc ị cáo in được hưởng án treo là chưa ph hợp, chưa tương ứng với hành vi phạm tội của ị cáo, o đó đề nghị Hội đồng t ử phúc thẩm chấp nhận một ph n kháng cáo của ị cáo và áp ụng Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa ản án sơ thẩm, ử phạt ị cáo H từ 06 tháng t đến 07 tháng t .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ị cáo Vương Thị H đảm ảo về hình thức và nội ung kháng cáo, đúng người có quyền kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo th o quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên đủ điều kiện để t ử th o trình tự phúc thẩm.

Hội đồng t ử phúc thẩm nhận thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, cũng như phiên tòa phúc thẩm, ị cáo H đều thừa nhận: Bị cáo và ị hại C1 là chị m ruột, hai nhà liền vách nhau, ở ấp T, xã T, huyện M và có mâu thu n từ trước về việc tranh chấp đất đai nên vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 22-3-2020, khi chồng à C1 lợp mái tol nhà thì hai ên tiếp tục lời qua tiếng lại với nhau, à C1 thách thức và lấy 01 khúc cây tr c m đi qua nhà ị cáo, ị cáo cũng đi từ nhà sau ra nhà trước để đánh nhau với à C1; khi ị cáo đi lên tới nhà trước thấy à C1 đang c m khúc cây tr đứng trước cửa nhà mình thì ị cáo cũng lấy 01 cây ao (loại ao Thái Lan) đang để s n trên àn trong nhà c m trên tay phải và đứng đối iện với à C1 cách khoảng 1,5m; khi à C1 c m khúc cây tr giơ lên đánh ị cáo thì ị cáo c m ao phóng (chọi về phía à C1 làm cho lư i ao trúng vào c ng tay phải của à C1, tiếp đó ị cáo nhào ra ng hai tay nắm tóc à C1 k o uống làm cả hai t trên nền gạch trước hàng a nhà của ị cáo, con gái à C1 là Lâm Thị Kim H1 nhìn thấy chạy qua can ngăn thì sự việc mới kết thúc. Th o Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 349/TgT-PY ngày 09-12-2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Sóc Trăng thì t lệ t n thương cơ thể của à C1 do thương tích gây nên là 14 , t n thương o vật sắc gây nên, t n thương kh ng n m ở v ng gây nguy hiểm đến tính mạng, t n thương gây ảnh hưởng chức năng các ngón 2, 3, 4, 5 àn tay phải. Việc ị cáo H dùng dao là loại hung khí nguy hiểm gây thương tích cho ị hại C1 với t lệ t n thương cơ thể 14 là phạm tội “Cố ý gây thương tích” th o quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 . Như vậy, Hội đồng t ử sơ thẩm tuyên ố ị cáo H phạm tội “Cố ý gây thương tích” th o điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét nội ung kháng cáo của ị cáo H, Hội đồng t ử phúc thẩm thấy, khi quyết định hình phạt, Cấp sơ thẩm đ áp ụng các tình tiết giảm nhẹ sau đây cho ị cáo như: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật có ph n hạn chế; sau khi phạm tội, ị cáo đ thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp tiền khắc phục được một ph n hậu quả o hành vi phạm tội của mình gây ra; sự việc ảy ra có một ph n l i của ị hại, th o quy định tại các điểm , s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 là đúng. Ngoài ra, tại phiên tòa sơ thẩm, người ị hại còn xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 nhưng cấp sơ thẩm chưa áp ụng là có thiếu sót nên cấp phúc thẩm sung thêm. Người ào chữa đề nghị áp ụng thêm cho ị cáo tình tiết giảm nhẹ phạm tội trong trường hợp ị kích động về tinh th n o hành vi trái pháp luật của ị hại gây ra th o quy định tại điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 là kh ng có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, hành vi của ị hại chưa đến mức làm cho ị cáo phải mất khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi của mình, mà v n có thời gian để lựa chọn cách ử sự khác ph hợp hơn, o đó cấp sơ thẩm áp ụng tình tiết giảm nhẹ cho ị cáo là ị hại có một ph n l i là ph hợp. Cấp sơ thẩm ử phạt ị cáo 09 tháng t là có căn cứ, tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của ị cáo nên ị cáo in giảm nhẹ hình phạt là kh ng có căn cứ chấp nhận.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo có cung cấp 01 biên lai thu tiền số 000693 ngày 14-9-2021 của Chi cục Thi hành án ân sự huyện M, tỉnh Sóc Trăng, nội ung là ị cáo nộp tiền khắc phục hậu quả cho ị hại C1 với số tiền 20.000.000 đồng, điều này thể hiện sau khi phạm tội ị cáo đ thật sự ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả o hành vi phạm tội của mình gây ra. Hội đồng t ử phúc thẩm nhận thấy, ị cáo ị ử phạt t kh ng quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú r ràng; ị cáo có khả năng tự cải tạo, kh ng c n phải ắt chấp hành hình phạt t , nếu cho ị cáo hưởng án tr o thì cũng kh ng gây nguy hiểm cho hội, kh ng làm ảnh hưởng ấu đến an ninh, trật tự, an toàn hội nên chấp nhận kháng cáo của ị cáo về việc in được hưởng án tr o, áp ụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân ân tối cao, hướng n áp ụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án tr o, cho ị cáo được hưởng án tr o, để ị cáo thấy được chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, mà cố gắng tự cải tạo, học tập, trở thành c ng ân tốt, có ích cho gia đình và

hội sau này.

Từ những phân tích trên, Hội đồng t ử phúc thẩm chấp nhận một ph n kháng cáo của ị cáo H; chấp nhận một ph n đề nghị của Kiểm sát viên, của người ào chữa cho ị cáo và căn cứ điểm khoản 1 Điều 355, điểm khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa ản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội thì ị cáo H kh ng phải chịu.

Các ph n quyết định khác của ản án hình sự sơ thẩm kh ng ị kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Kh ng chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vương Thị H, về việc in giảm nhẹ hình phạt.

Chấp nhận kháng cáo của ị cáo Vương Thị H, về việc xin được hưởng án treo.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2021/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân ân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm , s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đ i, sung năm 2017 ; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân ân tối cao, hướng n áp ụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án tr o.

Xử phạt ị cáo Vương Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án tr o, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 18 (mười tám tháng, tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 21 tháng 9 năm 2021).

Giao ị cáo Vương Thị H cho Ủy an nhân ân xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng giám sát, giáo ục trong thời gian thử thách. Trường hợp ị cáo Vương Thị H thay đ i nơi cư trú thì thực hiện th o quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu ị cáo Vương Thị H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định uộc ị cáo phải chấp hành hình phạt t của ản án đ cho hưởng án tr o.

3. Các ph n Quyết định khác của ản án hình sự sơ thẩm kh ng ị kháng cáo, kháng nghị đ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Về án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử ụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vương Thị H kh ng phải chịu.

5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ