- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1994; n - Bị đơn: Ông Trần Văn G, sinh năm 1989;"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 72/2021/HNGĐ-ST Ngày: 29-6-2021 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Quang Hoạch;
Ông Đinh Ngọc Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 857/2020/TLST-HNGĐ ngày 26/10/2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/4/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 78/2021/QĐST-HNGĐ ngày 26/52021 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Trần Văn G, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn A, ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 15/10/2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H trình bày:
Sau thời gian quen biết, tìm hiểu; bà và ông G tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 27/2018 ngày 08/8/2018. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông G thường hay chơi bài, lô đề, vay mượn tiền, không quan tâm chăm lo cho con cái. Bà đã nhiều lần góp ý nhưng ông G không thay đổi mà còn đánh đập bà. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông G.
+ Về con chung: Bà và ông G có 01 con chung là Trần Tuấn T, sinh ngày 20/12/2018. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T; không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuy nhiên,bị đơn ông Trần Văn G vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Thẩm quyền giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, gửi hồ sơ và tống đạt các văn bản tố tụng là đúng quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
+ Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồngxét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Giao con chung là cháu Trần Tuấn T cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tạm thời ông G không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; về nợ chung: Đương sự trình bày không có. Về án phí: Buộc bà H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
1.1 Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Trần Văn G có nơi cư trú tại thôn A, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên xác định bà H là nguyên đơn, ông G là bị đơn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 2, 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2 Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Văn G đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông G.
Về nội dung:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông G tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn số 27/2018 ngày 08/8/2018 nên quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông G là hợp pháp.
Tại đơn khởi kiện và lời khai trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà H trình bày trong thời gian chung sống giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Ông G thường hay đi chơi bài, lô đề, vay mươn tiền, không quan tâm, chăm lo cho con cái. Bà đã nhiều lần góp ý nhưng ông G không thay đổi lại còn đánh đập bà. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng ông G không có mặt; Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông G; Tuy nhiên, ông G không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 29/01/2021, mẹ ruột bà H là bà bà Vũ Thị N trình bày trong quá trình chung sống ông G thường nhậu nhẹt, bài bạc và nợ nần nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, ông G nhiều lần bóp cổ, đánh đập bà H, khi được bà can ngăn thì dọa nạt luôn bà nên bà cũng có nguyện vọng Tòa án giải quyết cho bà H, ông G được ly hôn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định hôn nhân của bà H, ông G đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được; Do vậy,cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà H, ông G được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
2.2 Về con chung: Bà H, ông G có có 01 con chung là Trần Tuấn T, sinh ngày 20/12/2018. Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T; không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay, cháu T chưa đủ 36 tháng tuổi, đang do bà H trực tiếp nuôi dưỡng và bà H có đủ các điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng con chung; xét yêu cầu của nguyên đơn và sự cần thiết của việc đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ nên căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Trần Tuấn T, sinh ngày 20/12/2018 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời ông G không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
2.4 Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng H được ly hôn với ông Trần Văn G.
2. Về con chung: Giao con chung là Trần Tuấn T, sinh năm 2018 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; tạm thời,ông G không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông G có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005910 ngày 19/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom được tính trừ vào tiền án phí bà H phải nộp. Bà H đã nộp đủ án phí.
4. Thi hành bản án của Tòa án:Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30.
5. Quyền kháng cáo:Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND H. Trảng Bom; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Trảng Bom; - UBND xã Định Hóa, H. Kim Sơn, T. Ninh Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thị Thùy Trinh |