vanban.org

Bản án 72/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/10/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Nh đối với anh Li Wei- F.

1. Chị Phạm Thị Nh được ly hôn với anh Li Wei- F. 2. Về con chung: Không có; tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn giữa chị Nh đối với anh LI, WEI – F"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Nh đối với anh Li Wei- F.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2021/HNGĐ-ST.
Ngày 21 - 10 - 2021.
V/v: Tranh chấp “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm. Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hiền

Ông Nguyễn Hoài Việt

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Danh – Kiểm sát viên. Trong ngày 21 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2020/TLST- HNGĐ ngày 14-12-2020, về việc tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Nh, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ 11, ấp B, xã TĐ, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Bị đơn: Anh LI, WEI – F, sinh năm 1991; địa chỉ: Z, hẻm 157, lộ Nhân Đức, khóm 16, thôn Kiều Đáu, làng Mạch Liêu, huyện Vân Lâm, lãnh thổ Đài Loan; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 02 tháng 11 năm 2020 và lời khai tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, chị Phạm Thị Nh (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Li Wei- F kết hôn với nhau ngày 28 tháng 01 năm 2019, không có tìm hiểu nhau mà do mai mối, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, chị đi phỏng vấn sang Đài Loan nhưng do không xuất cảnh được nên anh F bỏ về Đài Loan và từ đó đến nay không còn liên lạc với chị nữa. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Li Wei- F.

Về con chung: Không có; tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết; nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Li Wei - F, là người nước ngoài đang cư trú tại Đài Loan, Tòa án đã ủy thác tư pháp, thu thập lời khai, ấn định ngày mở phiên hòa giải, phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, ngày xét xử; hồ sơ đã được cơ quan có thẩm quyền Đài Loan tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam nhưng anh Li Wei- F không có ý kiến phản hồi và không có mặt tại phiên tòa.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

* Về tố tụng:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

- Việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Bị đơn Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng về ủy thác tư pháp, Bộ tư pháp có văn bản thông báo kết quả ủy thác tư pháp ngày 01- 4 - 2021 nhưng anh Li Wei- F không đến Tòa án giải quyết, không gửi tài liệu chứng cứ và văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.

* Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xem xét quyết định:

- Chị Phạm Thị Nh được ly hôn anh Li Wei- F.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng:

Chị Phạm Thị Nh là công dân Việt Nam (hiện đang sinh sống tại Việt Nam) khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Li Wei- F (hiện đang sinh sống và làm việc tại lãnh thổ Đài Loan) theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 37 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Chị Nh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh F vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về hôn nhân:

Chị Phạm Thị Nh và anh Li Wei- F kết hôn với nhau ngày 28 tháng 01 năm 2019, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị đi phỏng vấn sang Đài Loan nhưng do không xuất cảnh được nên anh F bỏ về Đài Loan và từ đó đến nay không còn liên lạc với chị nữa. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị Phạm Thị Nh đối với anh Li Wei- F là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị Nh trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên toà; xét thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Chị Nh phải chịu số tiền 200.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về án phí: Chị Phạm Thị Nh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 56, của Luật hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Nh đối với anh Li Wei- F.

1.1. Chị Phạm Thị Nh được ly hôn với anh Li Wei- F.

1.2. Về con chung: Không có; tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

2. Về án phí: Chị Phạm Thị Nh phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Nh đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001493 ngày 08 – 12 –2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, (Chị Nh đã nộp đủ án phí).

3. Về chi phí tố tụng khác: Chị Phạm Thị Nh phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, được trừ vào 200.000 đồng tiền tạm ứng chi phí đã nộp theo Biên lai thu số 002136 ngày 07-01-2021, của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh, (chị Nh đã nộp đủ chi phí).

4. Các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo thời hạn như sau:

4.1. Chị Phạm Thị Nh được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

4.2. Anh Li Wei- F được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ, theo quy định tại khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ