vanban.org

Bản án 72/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T về việc buộc bà Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị T số tiền 8.065.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 72/2021/DS-ST
Ngày: 31 - 5 - 2021
V/v tranh chấp “Hợp đồng
góp hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Phước Công

2. Bà Phan Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Bá Thi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Phước Lợi – Kiểm sát viên

Trong ngày 31 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2020/TLST-DS

ngày 02 tháng 02 năm 2021 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 247/2021/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2021 và

Quyết định hoãn phiên tòa số 225/2021/QĐST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2021

của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1958

Địa chỉ: ấp T, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Hồng N, sinh năm 1979

Địa chỉ: ấp T, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang (có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lý Quan C, sinh năm

1980

Địa chỉ: ấp T, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên

đơn bà Trương Thị T trình bày:

Bà có tham gia 02 dây hụi do bà Nguyễn Hồng N làm chủ hụi, cụ thể

như sau:

1/ Dây hụi ngày 15/9/2019 (âm lịch), hụi 500.000 đồng, hụi nữa tháng

khui 01 lần, hụi gồm có 34 phần. Khui hụi lần đầu vào ngày 15/9/2019, lần 2 là ngày 30/9/2019, lần 3 là 15/10/2019…cho đến khi kết thúc dây hụi. Dây hụi này bà tham gia 01 chân hụi và đã đóng hụi được 29 lần khui hụi với tổng số tiền 9.150.000 đồng. Dây hụi còn 05 lần khui hụi nhưng do bà N bể hụi và những người chơi hụi không đóng hụi nữa nên hiện nay dây hụi này đã chấm dứt. Dây hụi này bà N còn nợ lại bà số tiền đã đóng hụi là 9.150.000 đồng.

2/ Dây hụi ngày 01/12/2019 (âm lịch), hụi 200.000 đồng, hụi 01 tuần khui

01 lần, hụi gồm có 64 phần, khui hụi lần đầu vào ngày 01/12/2019, lần 2 là ngày 08/12/2019, lần 3 là 15/12/2019…cho đến khi kết thúc dây hụi. Dây hụi này bà tham gia 02 chân hụi. Trong đó, có 01 chân sống và đã đóng được 6.535.000 đồng; đối với chân hụi chết thì bà đã đóng được 51 lần, còn nợ 13 lần hụi chết chưa đóng với tổng số tiền 2.600.000 đồng. Do đó, dây hụi này bà N còn nợ lại bà số tiền: 6.535.000 đồng - 2.600.000 đồng = 3.935.000 đồng.

Do đó, tổng số tiền mà bà N còn nợ bà đối với 02 dây ngày 15/9/2019 (âm

lịch) và ngày 01/12/2019 (âm lịch) là 9.150.000 đồng + 3.935.000 đồng = 13.085.000 đồng.

Bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C là vợ chồng; hiện nay bà N và ông

C vẫn còn là vợ chồng.

Nay bà yêu cầu bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa vụ liên

đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 13.085.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Hồng N trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà

Trương Thị T về quá trình bà Trương Thị T tham gia chơi hụi đối với dây hụi ngày 15/9/2019 (âm lịch) và dây hụi ngày 01/12/2019 (âm lịch) do bà làm chủ hụi. Hiện nay bà còn nợ tiền hụi của T đối với 02 dây ngày 15/9/2019 (âm lịch) và ngày 01/12/2019 (âm lịch) là 9.150.000 đồng + 3.935.000 đồng = 13.085.000 đồng. Ông Lý Quan C và bà là vợ chồng, hiện nay vẫn còn là vợ chồng nhưng mục đích bà làm chủ hụi có thêm nhu nhập để tiêu sài cá nhân. Từ trước đến nay chồng bà (ông Lý Quan C) là người kiếm tiền để lo cho cuộc sống gia đình; còn bà kiếm tiền để tiêu sài cá nhân.

Do đó, bà đồng ý trả cho bà Trương Thị T số tiền 13.085.000 đồng.

Không đồng ý có nghĩa vụ liên đới với ông Lý Quan C trả cho bà Trương Thị T số tiền 13.085.000 đồng.

Trong quá trình giải vụ án, ông Lý Quan C đã được tống đạt các văn bản

tố tụng của Tòa án và có mặt trong tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông C không đồng ý tham gia tố tụng; chỉ trình bày ý kiến “ông không có liên quan gì trong vụ án giữa bà Trương Thị T và bà Nguyễn Hồng N nên không đồng ý ký tên trong bất kỳ văn bản nào của Tòa án. Bà Nguyễn Hồng N là vợ tôi; hiện nay tôi và bà Nguyễn

Hồng N vẫn còn là vợ chồng”.

Tại phiên tòa,

Bà Trương Thị T yêu cầu bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa

vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 13.085.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đồng thời, xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà Nguyễn

Hồng N có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 8.065.000 đồng.

Bà Nguyễn Hồng N trình bày: Do thu nhập của ông Lý Quan C không ổn

định nếu bà không làm chủ hụi thì không đủ tiền để nuôi sống gia đình nên bà

mới tổ chức chơi hụi nhằm kiếm thêm thu nhập lo cho gia đình, bà có sử dụng

tiền hoa hồng trong việc làm chủ hụi để lo cho con; việc bà làm chủ hụi ông C

biết nhưng không quan tâm, không phụ giúp bà trong việc quản lý các dây hụi;

khi bể hụi thì ông C không đồng ý cùng bà trả nợ. Do đó, bà đồng ý trả cho bà

Trương Thị T số tiền 13.085.000 đồng; không đồng ý có nghĩa vụ liên đới với

ông Lý Quan C trả cho bà Trương Thị T số tiền 13.085.000 đồng.

Ông Lý Quan C vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai

đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng

quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T đối với

yêu cầu buộc bà Nguyễn Hồng N trả cho bà số tiền 8.065.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T. Buộc bà

Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trương Thị

T số tiền nợ hụi là 13.085.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Trương Thị T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Hồng N và ông Lý

Quan C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà tiền hụi với số tiền 13.085.000 đồng là

tranh chấp về “Hợp đồng góp hụi”. Đồng thời, bà Nguyễn Hồng N (bị đơn) có

nơi cư trú tại ấp T, xã MH, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26,

điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự

năm 2015.

Tại phiên tòa, bà Trương Thị T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về

việc yêu cầu bà Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 8.065.000 đồng.

Xét thấy, việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T phù hợp khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T.

Ông Lý Quan C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham

gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lý Quan C.

Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T về việc yêu cầu bà Nguyễn

Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa vụ liên đới trả cho bà tiền hụi với số tiền 13.085.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ lời trình bày của bà Trương Thị T và bà Nguyễn Hồng N đều

thống nhất xác định giữa bà Trương Thị T và bà Nguyễn Hồng N có thỏa thuận tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Hồng N làm chủ hụi, gồm:

Dây hụi 500.000 đồng, gồm có 34 phần, nữa tháng mở hụi 01 lần, mở hụi

lần đầu vào ngày 15/9/2019 (âm lịch), hụi có lãi. Dây hụi này bà T tham gia 01 phần hụi và đã góp hụi được 29 kỳ mở hụi với tổng số tiền 9.150.000 đồng. Dây hụi này bà N còn nợ lại bà T số tiền đã góp hụi là 9.150.000 đồng và bà T chưa lĩnh hụi.

Dây hụi 200.000 đồng, gồm có 64 phần, 01 tuần mở hụi 01 lần, mở hụi

lần đầu vào ngày 01/12/2019, hụi có lãi. Dây hụi này bà T tham gia 02 phần hụi. Trong đó, có 01 phần hụi bà T chưa lĩnh hụi và đã góp được 51 kỳ mở hụi với tổng số tiền 6.535.000 đồng; 01 phần hụi bà T đã lĩnh hụi và đã góp được 51 kỳ mở hụi, còn nợ lại bà N 13 kỳ mở hụi chưa góp với tổng số tiền 2.600.000 đồng. Do đó, dây hụi này bà N còn nợ lại bà T số tiền: 6.535.000 đồng - 2.600.000 đồng = 3.935.000 đồng.

Tổng số tiền hụi mà bà N còn nợ bà T đối với 02 dây hụi ngày 15/9/2019

(âm lịch) và ngày 01/12/2019 (âm lịch) là 9.150.000 đồng + 3.935.000 đồng = 13.085.000 đồng. Do bà N bể hụi và các thành viên tham gia dây hụi không góp hụi nữa nên hiện nay các dây hụi này đã chấm dứt.

Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, có đủ căn cứ

xác định bà Trương Thị T với bà Nguyễn Hồng N có giao kết hợp đồng góp hụi và bà Nguyễn Hồng N còn nợ bà Trương Thị T số tiền hụi là 13.085.000 đồng. Việc xác lập hợp đồng góp hụi giữa các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình thực hiện hợp đồng góp hụi, bà Nguyễn Hồng N là chủ hụi, đã thu phần hụi của các hụi viên, trong đó có 02 dây hụi mà bà T tham gia với tổng số tiền 13.085.000 đồng nhưng tự ý ngưng hụi là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi theo quy định tại Điều 282, 471 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ. Do đó, việc bà Trương Thị T yêu cầu bà

Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ trả lại số tiền vốn gốc đã góp hụi 13.085.000 đồng

là có cơ sở chấp nhận.

Đối với ông Lý Quan C, mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố

tụng theo quy định của pháp luật để tham gia tố tụng trong vụ án và ông C có

mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa

giải nhưng ông C từ chối tham gia tố tụng, chỉ trình bày ý kiến mà không đồng ý

ký tên vào biên bản xem như đã tự từ bỏ các quyền của mình được pháp luật

quy định. Tuy ông Lý Quan C không trực tiếp tham gia giao dịch với bà Trương

Thị T nhưng căn cứ lời trình bày của bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C,

thời điểm bà N xác lập giao dịch dân sự với bà T thì bà N và ông C là vợ chồng

và hiện nay quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà N vẫn chưa chấm dứt. Theo

Biên bản ghi lời khai ngày 09/3/2019, bà Nguyễn Hồng N trình bày “Mục đích

làm chủ hụi để kiếm thêm thu nhập nuôi sống cho gia đình”; tại phiên hòa giải

ngày 29/4/2021, bà Nguyễn Hồng N thay đổi lời khai và trình bày “Mục đích tôi

làm chủ hụi để có thêm nhu nhập để tiêu sài cá nhân”. Tuy nhiên tại phiên tòa,

bà Nguyễn Hồng N đã xác định, việc bà N làm chủ hụi ông C biết và không

phản đối, mục đích bà N làm chủ các dây hụi là để có thêm thu nhập lo cho con

chung và cuộc sống của vợ chồng. Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92,

khoản 5 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự, có đủ căn cứ xác định việc bà N làm

chủ hụi phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của bà N và ông C, bà N sử dụng tiền

hoa hồng từ việc làm chủ hụi để đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của gia đình nên

yêu cầu của bà Trương Thị T buộc ông Lý Quan C có nghĩa vụ liên đới với bà

Nguyễn Hồng N trả cho bà T số tiền 13.085.000 đồng phù hợp Điều 27, 37 Luật

hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.

Về lãi suất: Do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử

không đặt ra để xem xét.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện

của bà Trương Thị T. Buộc bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa vụ

liên đới trả cho bà Trương Thị T tổng số tiền hụi còn nợ là 13.085.000 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T được chấp

nhận nên bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm

đối với số tiền phải trả cho bà Trương Thị T theo quy định tại khoản 4 Điều 147

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án

phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 26, 35, 39, 147, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 288, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T về

việc buộc bà Nguyễn Hồng N có nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị T số tiền 8.065.000 đồng.

[2] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị T.

Buộc bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa vụ liên đới trả cho

bà Trương Thị T số tiền 13.085.000 (mười ba triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan

thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Hồng N và ông Lý Quan C có nghĩa vụ liên đới chịu 654.000

(sáu trăm năm mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ