- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội rửa tiền (điều 251 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI- TP HÀ NỘI | |
TOÀ ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THANH OAI, TP. HÀ N Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 72/2020/HSST Ngày 22/10/2020 NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lưu Bá Khôi 2. Bà Nguyễn Thị Tích Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh O . Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O , Thành phố Hà N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa, Kiểm sát viên Ngày 22 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà N xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 65/2020/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sô: 71/2020/HSST- QĐTA ngày 08 tháng 10 năm 2020 đối với các bị cáo: 1/ Lê Đình M (Tên gọi khác: Ch ), Sinh năm 1968; ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Siêu Q , xã Tả Thanh O , huyện Thanh Tr , Tp Hà N ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Bố đẻ: Lê Đình V (đã chết) Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ng t; Có vợ là Nguyễn Thị Th , sinh năm 1971; Có 02 con: Lớn sinh năm 1990 con nhỏ sinh năm 2001; Danh chỉ bản 126/2020, lập ngày 08/6/2020 tại Công an huyện Thanh O , Thành phố Hà N . - Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2020 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Thanh O , thành phố Hà N . Có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Tòa án. 2/ Nguyễn Đức Th (Tên gọi khác: không), Sinh năm 1979; ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Phượng M , xã Mỹ H , huyện Thanh O , Tp Hà N ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Bố đẻ: Nguyễn Hữu Ch , sinh năm 1945; Mẹ đẻ: Đỗ Thị A , Sinh năm 1945; có vợ là Phạm Thị H , sinh năm 1980; Có 02 con: Lớn sinh năm 2002 con nhỏ sinh năm 2005; Danh chỉ bản 124/2020, lập ngày 08/6/2020 tại Công an huyện Thanh O , Thành phố Hà N . Nhân thân: Ngày 26/10/2010 bị TAND huyện Thanh O xử phạt 1 năm 6 tháng tù giam. Ngày 20/11/2011 ra trại và đã chấp hành xong bản án. Đã được xóa án tích. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thanh O , thành phố Hà N . Có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Tòa án. 3/ Ngô Kiêm V (Tên gọi khác: không), Sinh năm 1978; ĐKNKTT và nơi ở: Thôn Thiên Đ , xã Mỹ H , huyện Thanh O , Tp Hà N ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Bố đẻ: Ngô Kiêm V (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B (đã chết); có vợ là Lê Thị Ch , sinh năm 1978; Có 03 con: Lớn sinh năm 2001 con nhỏ sinh năm 2012; Danh chỉ bản 125/2020, lập ngày 08/6/2020 tại Công an huyện Thanh O , Thành phố Hà N . Nhân thân: Năm 2006 bị CAX Bình M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng chất ma túy. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thanh O , Tp Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất của Tòa án. Người có quyền lợi liên quan: 1/Chị Nguyễn Thị Th , sinh năm 1971 Trú tại: Thôn Siêu Q , xã Tả Thanh O , huyện Thanh Tr , Tp Hà N . 2/ Chị Phạm Thị H , sinh năm 1980 Trú tại: Thôn Phượng M , xã Mỹ H , huyện Thanh O , Tp Hà N . - Người làm chứng: 1/ Tạ Thanh B , sinh năm 1983 Trú tại: Thôn Quảng M , xã Mỹ H , huyện Thanh O , Tp Hà N . (Tại phiên tòa chị Th , chị H có mặt. Tạ Thanh B vắng mặt) NỘI DUNG VỤ ÁN Bị cáo Lê Đình M , Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh O , Thành phố Hà N truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 07 giờ sáng ngày 06/6/2020, Ngô Kiêm V , sinh năm 1978, trú tại: thôn Thiên Đ , xã Mỹ H , huyện Thanh O gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Th , sinh năm 1979, trú tại: thôn Phượng M , xã Mỹ H , huyện Thanh O rủ góp tiền cùng mua ma túy về sử dụng chung. Th đồng ý và hẹn gặp Vụ tại cống Đan Th , xã Mỹ H , huyện Thanh O . Sau đó, V điều khiển xe mô tô BKS 33M7-5259 còn Th điều khiển xe mô tô BKS 33R4-8316 đến chỗ hẹn. Khi gặp nhau, Th đưa cho V 100.000 đồng( gồm hai tờ tiền mệnh giá 50.000đ) để mua ma túy sử dụng chung rồi Vụ gọi điện thoại cho Lê Đình M , sinh năm 1968, trú tại: xã Tả Thanh O , huyện Thanh Tr để hỏi mua 1 gói ma túy giá 200.000đ, M đồng ý và hai bên hẹn nhau giao tiền, nhận hàng tại cống Đan Th, xã Mỹ H , huyện Thanh O . Sau đó, Vụ điều khiển xe máy của mình đi mua xi lanh tại một cửa hàng thuốc tại thôn Gia V , xã Thanh Th , huyện Thanh O rồi quay về chỗ Th đang đứng đợi. Khoảng 08h cùng ngày, M điều khiển xe mô tô BKS 30M8-0031 đến gần chỗ hẹn thì dừng xe và nhìn thấy Vụ đang đứng cùng Th , V đi bộ lại phía M đưa cho M số tiền 190.000đ( gồm 3 tờ tiền mệnh giá 50.000đ và 2 tờ tiền mệnh giá 20.000đ) rồi nói xin M 10.000đ, M cầm tiền và đưa cho V 01 gói ma tuý. Sau khi mua được ma túy, V cầm trên tay phải quay lại chỗ Th đang đứng đợi để cùng nhau sử dụng thì
bị Công an xã Mỹ H , huyện Thanh O kiểm tra bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu đen trong chứa chất bột trắng Vụ đang cầm trên tay, Lê Đình M sau khi cầm tiền và đưa gói ma túy cho Vụ thì quay xe đi về nhưng cũng bị lực lượng Công an xã Mỹ H , huyện Thanh O chặn xe kiểm tra, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 04 gói nilon màu đen trong chứa chất bột trắng, 190.000đ tiền M vừa nhận từ Vụ và 865.000đ trên người M . Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Lê Đình M 01 xe mô tô BKS 30M8-0031, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã qua sử dụng có số IMEI: 354185108994279 kèm 01 sim Vinaphone có số 89840 20002 07588 01574; thu giữ của Nguyễn Đức Th 01 xe mô tô BKS 33R4-8316, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám bạc có số IMEI1: 358131092559914 và IMEI2: 358132092559912 kèm sim Viettel có số 0984 0403 7100 2328934; thu giữ của Ngô K Vụ 01 xe mô tô BKS 37M3-5259, 01 điện thoại Nikia màu xanh dương có IMEI: 354198101186454 kèm sim Viettel có số 8984048000047095528. Ngày 06/6/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh O có Quyết định trưng cầu giám định số 119/CSĐT tới Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N để giám định đối với 01 gói nilon màu đen thu giữ của Vụ và 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 04 gói nilon màu đen thu giữ của M . Tại Kết luận giám định số 4564/KLGĐ-PC09 ngày 13/8/2020, phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N kết luận: “- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bọc ngoài cùng bằng nilon màu đen là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,116 gam. - Chất bột màu trắng bên trong 04 gói nilon màu đen, bọc ngoài bằng 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,429 gam.” - Về tang vật vụ án: + 01 gói nilon màu đen thu giữ của Vụ. + 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 04 gói nilon màu đen thu giữ của M . + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám bạc; 01 điện thoại Nikia màu xanh dương. + 1 xe mô tô BKS 30M8-0031; 01 xe mô tô BKS 33R4-8316; 01 xe mô tô BKS 37M3-5259. + Số tiền thu giữ của Lê Đình M tổng số 1.055.000đ. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Cáo trạng đã nêu và điều luật đã viện dẫn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V mỗi bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 6/6/2020; áp dụng khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Lê Đình M từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 6/6/2020. Và không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS tịch thu phát mại xung công 01 xe mô tô BKS 33R4- 8316; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám bạc, 01 điện thoại Nikia màu xanh dương; tịch thu xung công số tiền bị cáo M thu lời bất chính 190.000đ; tịch thu xuất huỷ 02 phong bì thư niêm
phong có chữ ký của các bị cáo và chữ ký giám định viên được hoàn lại sau giám định; bảo thủ số tiền 865.000đ để bảo đảm khoản thi hành án của bị cáo M . Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
- Ngày 06/6/2020, Ngô Kiêm Vụ, Nguyễn Đức Th có hành vi rủ nhau góp tiền mua ma tuý, đã tiến hành hoàn thành việc mua 01 gói ma tuý loại Hêroin có trọng lượng 0,116 gam của Lê Đình M và tàng trữ trong người Vụ với mục đích để sử dụng chung. Đồng thời, trong cùng ngày Lê Đình M đã có hành vi bán 01 gói ma tuý loại Hêroin, trọng lượng 0,116 gam cho Ngô Kiêm Vụ, Nguyễn Đức Th , ngoài ra Minh cón bị Công an xã Mỹ H , huyện Thanh O bắt quả tang và thu giữ trong người M 04 gói ma túy loại Hêroin với trọng lượng 0,429 gam với mục đích bán để thu lời bất chính. {1} Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các Quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật. {2} Tại phiên tòa Lê Đình M đã thành khẩn khai nhận có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V đã khai nhận hành vi“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo như bản kết luận giám định số 4564/KLGĐ-PC09 ngày 13/8/2020, phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà N kết luận: “- Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bọc ngoài cùng bằng nilon màu đen là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,116 gam. - Chất bột màu trắng bên trong 04 gói nilon màu đen, bọc ngoài bằng 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,429 gam.” cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập hồi 08 giờ 15 phút ngày 06/6/2020 của Lê Đình M , Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V . 3.Xét tính chất: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi của Lê Đình M phạm tội “Mua bán trái phép chất mà túy” và Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện do nhà nước độc quyền quản lý. Tội phạm còn là nguyên nhân phát sinh thêm nhiều tệ nạn trong xã hội, trực tiếp hủy hoại đến sức khoẻ bản thân người sử dụng và làm thiệt hại đến kinh tế gia đình và xã hội, còn là nguyên nhân lây truyền nhiều loại bệnh xã hội. vì vậy phải có hình phạt tù nghiêm khắc đối với các bị cáo để trừng trị, dăn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo ở chỗ: Trước phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo ăn năn hối cải và thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nhận thức rõ hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, số ma
tuý bị cáo bị cáo Lê Đình M dùng để mua bán kiếm lời cũng như Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V dùng để sử dụng cho bản thân không lớn; các bị cáo lại là người nghiện ma túy nên không cần áp dụng khoản 5 điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với các bị cáo. - Đối với xe mô tô BKS 30M8-0031 thu của Lê Đình M : Qua tra cứu, chiếc xe này không có trong hệ thống cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; Phiếu trả lời xác minh xác định chủ xe là anh Nguyễn Đình H , sinh năm 1980, trú tại: thôn Nhân H , xã Tả Thanh O , huyện Thanh Tr . Anh H trình bày chiếc xe anh mua mới và đăng kí chính chủ năm 2010, đến năm 2018 thì anh bán cho gia đình Lê Đình M . Ngày 22/08/2020, chị Nguyễn Thị Th , sinh năm 1971, là vợ của M đến Cơ quan điều tra nộp 01 đăng kí xe mô tô BKS 30M8-0031 mang tên Nguyễn Đình H và khai chiếc xe này được Lê Đình M mua bằng tiền của cả hai vợ chồng với mục đích để chị sử dụng đi chợ, đăng kí xe chị vẫn cầm để lưu hành, ngày 06/6/2020 chị Thành không đi chợ nên M mượn xe, nói là đi chơi nên chị Thành đồng ý và không biết việc M dùng xe để đi bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh O đã trả lại chiếc xe mô tô trên vào ngày 12/8/2020 cho chị Nguyễn Thị Th là có căn cứ. - Đối với xe mô tô BKS 37M3-5259 thu của Ngô Kiêm V . V khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết tại thôn Xà K , xã Quảng Phú C , huyện Ứng H với giá 2.500.000 đồng. Khi mua xe, người đàn ông này giao xe và đưa cho V một đăng kí xe mang tên Nguyễn Xuân H , sau đó Vụ đã cắm đăng kí xe này cho một người phụ nữ không quen biết để lấy tiền sử dụng ma tuý. - Ngày 15/7/2020, Cơ quan điều tra có Quyết định trưng cầu giám định số khung, số máy đối với chiếc xe mô tô này. Tại Kết luận giám định số 7074/KL- PC09-Đ3 ngày 05/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP. Hà N , kết luận: “Xe máy nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 37M3-5259 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHHA090X7Y047387 và số máy: HA09E-8047387 là số nguyên thủy.” + Qua tra cứu BKS 37M3-5259 xác định chủ xe tên là Trần Thị Hải Y , sinh năm 1992, trú tại: xã Hưng L , thành phố V , tỉnh Nghệ A . Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh O đã ủy thác điều tra cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V , tỉnh Nghệ A , xác định: BKS 37M3-5259 là của xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, chủ sở hữu là chị Trần Thị Hải Y . Chiếc xe trên hiện chị Y vẫn đang sử dụng. + Tra cứu số khung: RLHHA090X7Y047387 và số máy: HA09E-8047387 của xe mô tô nói trên, xác định số khung, số máy trên thuộc về xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave có BKS 33P2-3951, chủ xe là ông Nguyễn Danh Đ , sinh năm 1965, trú tại: xã Đông L , huyện Hoài Đ . Ông Đ khai mua mới và đăng kí chính chủ năm 2007, đến năm 2017 thì bị mất trộm tại thôn Đông L , xã Đông L , huyện Hoài Đ nhưng ông không trình báo cơ quan Công an. Kết quả tra cứu xác định xe không nằm trong hệ thống cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh O đã chuyển chiếc xe mô tô nói trên cùng các tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hoài Đ để giải quyết theo quy định là phù hợp.
- Đối với chiếc xe mô tô BKS 33R4-8316, đăng ký xe mang tên Nguyễn Đức Th . Tại Kết luận giám định số 7074/KL-PC09-Đ3 ngày 05/8/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an TP. Hà Nội, kết luận: “Xe máy nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 33R4-8316 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHHC12238Y516512 và số máy: HC12E-0552926 là số nguyên thủy”. Tra cứu xe không nằm trong hệ thống cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên. Ngày 31/8/2020 chị Phạm Thị H là vợ Nguyễn Đức Th đến cơ quan điều tra giao nộp 01 Đăng ký mô tô, xe máy số 201438 mang tên Nguyễn Đức Th . Chiếc xe này hiện cơ quan điều tra đang quàn lý và được chuyển giải quyết theo hồ sơ vụ án. - Đối với 3 chiếc điện thoại mà M , Th , V dùng để liên lạc mua bán, sử dụng ma túy với nhau; Số tiền 190.000 đồng M có được từ việc bán ma túy cho V và 865.000 đồng thu được trên người của Minh; Hai phong bì thư hoàn lại sau giám định có chữ ký của Lê Đình M , Ngô Kiêm V , Nguyễn Đức Th và chữ ký của cán bộ, giám định viên cơ quan giám định, hiện cơ quan điều tra đang quàn lý và được chuyển giải quyết theo hồ sơ vụ án. - Về nguồn gốc số ma túy của M tàng trữ trong người và bán cho V , quá trình điều tra M khai mua của một người đàn ông không quen biết ở khu vực cánh đồng sau Công viên nước Thanh H thuộc phường Phú L quận Hà Đ với giá 800.000 đồng. Sau đó, Minh chia làm 05 gói để bán kiếm lời và vừa bán 01 gói cho V thì bị bắt. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhân thân người bán ma túy cho M nhưng không xác định được người như M mô tả. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Quá trình điều tra, các bị cáo Lê Đình M , Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như kết quả điều tra đã nêu. Lời khai của bị can phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, tang vật thu giữ, lời khai nhan chứng và tài liệu chứng cứ thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. - Về tang vật vụ án cần xử lý tại phiên toà + 01 xe mô tô BKS 33R4-8316. + 02 phong bì thư có chữ ký của các bị cáo và chữ ký giám định viên được hoàn lại sau giám định. + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám bạc; 01 điện thoại Nikia màu xanh dương. + Số tiền thu giữ của Lê Đình M tổng số 1.055.000đ. - Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên! QUYẾT ĐỊNH; 1. Tuyên bố bị cáo: Lê Đình M phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma tuý”. 2. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
3.Áp dụng: Khoản 1 điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật Hình Sự. Xử phạt: Lê Đình M 26 (Hai mươi sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2020. 4.Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật Hình Sự. Xử phat: Nguyễn Đức Th và Ngô Kiêm V mỗi bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù thời hạn tù tính ngày 06/6/2020. 3.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì thư niêm phong có chữ ký của Lê Đình M , Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V và chữ ký giám định viên phòng PC 09 đã được chuyển cho Chi cục thi hành án ngày 20/10/2020 -Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01“Xe máy nhãn hiệu Honda Wave đeo biển kiểm soát: 33R4-8316 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHHC12238Y516512 và số máy: HC12E-0552926 là số nguyên thủy”. Tra cứu xe không nằm trong hệ thống cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng nên. 01 Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám bạc; 01 điện thoại Nikia màu xanh dương đã được chuyển cho Chi cục thi hành án ngày 20/10/2020 - Tịch thu xung công số tiền 190.000đ của bị cáo M do thu lời bất chính đã chuyển cho kho bạc nhà nước huyện Thanh O ngày 21/10/2020; Bảo thủ số tiền 835.000đ đã chuyển cho kho bạc nhà nước ngày 21/10/2020 để bảo đảm khoản thi hành án của bị cáo M . 4. Về án phí: Căn cứ nghị quyết số: 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Lê Đình M , Nguyễn Đức Th , Ngô Kiêm V mỗi bị cáo phải chịu: 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 22/10/2020.
Nơi nhận: - TAND TP. Hà N ; - Sở Tư pháp TP Hà N - VKS ND huyện Thanh O ; - UBND nơi các bị cáo ĐKHKTT; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN TIẾN DŨNG |