- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________________________ Bản án số: 72/2020/HS-ST Ngày 09-9-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trúc Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Vĩnh Ảnh
2/ Ông Phan Văn Tạo
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Văn Nhƣ – Thẩm Tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 81/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2020/QĐXXST – HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn T; Tên gọi khác: T bà Hoa; Sinh ngày 30 tháng 8 năm 1988; Nơi sinh: Sóc Trăng; Đăng ký thường trú: đường B, khóm H, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông: Trần Văn Th, sinh năm 1961 và bà: Phạm Thúy H (chết); Anh chị em ruột: có 03 người, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1993; Vợ, con: chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: 04 lần: lần thứ nhất, vào ngày 13 tháng 8 năm 2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 04 năm tù về Tội cướp tài sản; lần thứ hai, vào ngày 04 tháng 01 năm 2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 07 năm tù về Tội cướp tài sản; lần thứ ba, vào ngày 19 tháng 6 năm 2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 01 năm tù về Tội trộm cắp tài sản; lần thứ tư, vào ngày 23 tháng 6 năm 2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, đến ngày 14 tháng 3 năm 2018 thì chấp hành xong, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt truy nã từ ngày 01 tháng 7 năm 2020 và chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Bị hại: bà Trƣơng Thanh H, sinh năm 1976; Địa chỉ: đường Tr, khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ, ngày 28 tháng 02 năm 2020, T một mình đi bộ lượm ve chai tại khu vực chợ Trung tâm thành phố Sóc Trăng. Khi T đi đến ki ốt số 19 đường Đồng Khởi, khóm 2, phường 9, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng của chị Trương Thanh H (H) thì T phát hiện hai cái thùng xốp xếp lên nhau để tại khu vực lối ra vào trong ki ốt, T đi lại dùng tay bẽ thủng một lổ thùng xốp ở phía dưới rồi đưa tay vào bên trong thì phát hiện bên trong có chả cá và cá thác nguyên con gồm có: 13 kg chả cá thác lác, loại cá nuôi còn tươi sống; 13 kg chả cá thu, còn tươi sống; 04 kg chả cá dảnh, còn tươi sống; 07 kg cá thác lác nguyên con, loại cá thiên nhiên còn tươi sống; 04 kg cá thác lác nguyên con, loại cá nuôi còn tươi sống được để trong các bịch nylon trong suốt và được bảo quản bằng nước đá xoay nhuyễn ở trên nên T nảy sinh ý định lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. T dùng tay phải lấy tất cả các bịch chả cá và cá thác lác này đem ra bên ngoài thùng xốp. Sau đó T lượm một cần xé ở gần đó lấy tất cả bịch chả cá và cá thác lác vừa lấy trộm vào bên trong cần xé rồi đi đến khu vực chợ cá đường Nguyễn Huệ, thành phố Sóc Trăng bán cho hai thanh niên không quan biết được 2.000.000 đồng, số tiền có được T tiêu xài cá nhân hết. Còn chị H sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Cơ quan Công an trình báo sự việc, sau đó Cơ quan điều tra triệp tập T lên làm việc thì T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình
Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/KL.ĐGTS, ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sóc Trăng kết luận: 13 kg chả cá thác lác tươi sống, loại cá nuôi có giá 2.860.000 đồng; 13 kg chả cá thu, tươi sống có giá 1.950.000 đồng; 04 kg chả cá dảnh, tươi sống có giá 400.000 đồng; 07 kg cá thác lác nguyên con, loại cá thiên nhiên, tươi sống có giá 700.000 đồng; 04 kg cá thác lác nguyên con, loại cá nuôi, tươi sống có giá 280.000 đồng; tổng tài sản có giá 6.190.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 83/CT-VKS-TPST ngày 18/8/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm đến 04 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Đối với việc vắng mặt bị hại nhưng đã có lời khai làm rõ các tình tiết trong hồ sơ vụ án, xét thấy không trở ngại đến việc bồi thường thiệt hại, tính quyết định hình phạt. Căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bị hại.
.Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T khai nhận: Vào khoảng 23 giờ, ngày 28 tháng 02 năm 2020 bị cáo đi đến khu vực lối đi ki ốt số 19 đường Đồng Khởi, khóm 2, phường 9, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo lén lút lấy 13 kg chả cá thác lác tươi sống, loại cá nuôi; 13 kg chả cá thu, tươi sống; 04 kg chả cá dảnh, tươi sống; 07 kg cá thác lác nguyên con, loại cá thiên nhiên, tươi sống; 04 kg cá thác lác nguyên con, loại cá nuôi, tươi sống; của bà Trương Thanh H, qua định giá tài sản có giá 6.190.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Bị cáo T lén lút lấy chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là tổng tài sản có giá trị là 6.190.000 đồng. Bị cáo đã bị kết 02 năm tù về Tội trộm cắp tài sản, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, đến ngày 14 tháng 3 năm 2018 thì chấp hành xong, chưa được xóa án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phạm tội thuộc tình tiết định khung: “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Như vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố đối với hành vi của bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
. Xét các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
.Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
. Xét lời đề nghị của kiểm sát viên về việc áp dụng pháp luật là có căn cứ chấp nhận. Về hình phạt cần xử phạt bị cáo ở mức trung bình như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, đủ răn đe, giáo dục phòng ngừa tội phạm chung.
.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
1. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 7 năm 2020.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp là 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng);
Báo cho bị cáo được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND TPST; - Cơ quan THA CA TPST; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Trúc Phƣơng |