vanban.org

Bản án 72/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chương Mỹ, TP. Hà Nội Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh B 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/04/2020. Buộc bị cáo Đỗ Minh B phải trả anh Đỗ Công H 4.000.000 đồng ( bốn triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Minh B phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯƠNG MỸ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 72 /2020/HS-ST
Ngày 30-6-2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án huyện Chương Mỹ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2020/TLST-HS ngày 11/6/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2020/QĐXXST-HS ngày 18/6/2020 đối với bị cáo:

Đỗ Minh B, sinh năm 1997; HKTT và nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Công N, sinh năm 1970; con bà Hạ Thị X, sinh năm 1974; vợ, con: không; Danh chỉ bản số 250 lập ngày 22/4/2020 tại Công an huyện Chương Mỹ; tiền án: không;

Nhân thân: -Tại bản án HSST số 113 ngày 22/9/2015, bị TAND huyện Chương Mỹ xử phạt 3 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ra trại ngày 28/8/2017. Nộp án phí 200.000 đồng ngày 21/10/2015; Nộp 1.200.000 đồng tiền sung quỹ nhà nước ngày 04/01/2016.

- Ngày 01/4/2020 CQĐT Công an huyện Chương Mỹ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và quyết định khởi tố bị can đối với Đỗ Minh B về hành vi “Trộm cắp tài sản” ngày 22/3/2020.

Bị can bị bắt, tạm giam từ ngày 01/4/2020. Bị cáo tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an Thành phố Hà Nội. (Có mặt)

Bị hại: Anh Đỗ Công H, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm V, xã T, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 16/02/2020, Đỗ Công H đến nhà Bùi Thanh T là bạn Hoạt ở khu X, thị trấn X, huyện Chương Mỹ chơi. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Hoạt đi về nhà, do không có xe, nên T cho H mượn xe môtô Dream BKS 30X5-4197, H điều khiển xe môtô 30X5-4197 đi về nhà. Sau đó, khoảng 13 giờ cùng ngày, H điều khiển xe môtô trên đến nhà Đỗ Minh B ở cùng xóm V chơi. Khi đến nhà B, anh H thấy B đang ngồi trong nhà uống nước với Hà Huy V ở xóm G, xã T, nên H dựng xe môtô 30X5-4197 ở sân nhà B và đi vào ngồi uống nước cùng B và V. Một lúc sau, B hỏi mượn xe môtô 30X5-4197 của anh H để đi mua thẻ điện thoại, vì quen biết nhau từ trước và B là người cùng xóm, nên H đồng ý giao xe môtô 30X5-4197 cho B mượn, sau khi mượn được xe môtô 30X5-4197, B điều khiển xe đến quán bán tạp hóa của chị Đỗ Thị Ph ở cùng xóm, mua 01 chiếc thẻ nạp tiền điện thoại loại 100.000 đồng.

Sau khi mượn xe, mua thẻ điện thoại xong, B nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môtô trên của H mang đi cầm cố lấy tiền tiêu. Do không biết điểm cầm cố xe, nên B điều khiển xe môtô 30X5-4197 vừa mượn của Hoạt đến nhà Phùng Xuân Th, ở thôn Đ, xã H, huyện Chương Mỹ nhờ Th cầm cố hộ xe (theo B khai). Th đồng ý và mang xe môtô 30X5-4197 đi cầm cố, còn B chờ ở nhà Th. Khoảng 30 phút sau thì một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) đến nhà Th đưa cho B 4.000.000 đồng và bảo với B: Th gửi tiền cầm cố xe. B cầm tiền của nam thanh niên (chưa rõ nhân thân) và sử dụng tiêu sài cá nhân hết.

Anh H chờ đến 16 giờ cùng ngày, không thấy B mang xe trả, nên đi bộ về nhà. Sau đó, nhiều lần H tìm gặp B để đòi lại xe, nhưng B bỏ trốn, đến ngày 27/02/2020, H đến Công an xã T tố giác hành vi của B. Sau khi biết xe môtô BKS 30X5-4197 B đã nhờ Phùng Xuân Th đi cầm cố, nên ngày 12/3/2020, H đã tìm đến nhà Th và tự bỏ số tiền 4.000.000 đồng chuộc chiếc xe môtô trên từ Phùng Xuân Th và giao nộp cho CQĐT Công an huyện Chương Mỹ ngày 12/3/2020.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KL - HĐĐG ngày 13/3/2020 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chương Mỹ kết luận: “Giá trị còn lại của chiếc xe mô tô BKS 30X5-4197 là: 6.500.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trả lại xe môtô BKS 30X5-4197 cho anh Bùi Thanh T. Đỗ Công H yêu cầu Đỗ Minh B phải bồi thường 4.000.000 đồng là số tiền mà H bỏ ra để chuộc xe môtô 30X5-4197.

Cáo trạng số 72/CT-VKS-CM ngày 09/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Đỗ Minh B tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: - Bị cáo Đỗ Minh B khai nhận toàn bộ diễn biến thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Minh B phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1Điều 51Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Minh B từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; Về hình phạt bổ sung đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải trả anh H số tiền 4.000.000đồng .

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, tạm giam, về các biện pháp điều tra như lấy lời khai bị can, lấy lời khai người làm chứng, thu giữ vật chứng, trưng cầu định giá tài sản, về việc giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can, bị hại. Quá trình điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, nhục hình đối với bị can.

[1.2]. Về sự vắng mặt của bị hại: Bị hại đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

. Về nội dung:

. Xét lời khai của bị cáo Đỗ Minh B tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ ngày 16/02/2020, Đỗ Minh B lợi dụng lòng tin của anh Đỗ Công H đã mượn xe môtô Dream BKS 30X5-4197 trị giá 6.500.000 đồng do anh H mang đến nhà Bân. Sau khi mượn được xe mô tô, bị cáo B đã có ý thức chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh H và điều khiển xe trên đi đến nhà Phùng Xuân Th, ở thôn Đ, xã H, huyện Chương Mỹ cầm cố cầm cố xe môtô 30X5-4197 lấy 4.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tình tiết: “Mượn tài sản của người khác rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó” quy định tại điểm a khoản 1 điều 175 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố bị cáo Đỗ Minh B là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo B khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả bị hại; là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

. Xét loại, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, thể hiện tính coi thường pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2015 đã bị kết án về hành vi Cướp giật tài sản, bị cáo đang bị khởi tố về hành vi Trộm cắp tài sản. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Thanh T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xét.

Bị cáo B đã cầm cố chiếc xe mô tô cho anh Phùng Xuân Th được 4.000.000đồng, anh Đỗ Công H đã tự bỏ số tiền 4.000.000 đồng chuộc chiếc xe môtô trên từ Phùng Xuân Th. Nay anh H yêu cầu bị cáo B bồi thường số tiền 4.000.000đồng là phù hợp nên cần chấp nhận.

[2.5]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175 điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Minh B 18 ( Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/04/2020.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự:

Buộc bị cáo Đỗ Minh B phải trả anh Đỗ Công H 4.000.000 đồng ( bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Đỗ Công H có yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thi hành thì bị cáo còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thi hành theo quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS.

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngµy 30 th¸ng 12 n¨m 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ Minh B phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ