vanban.org

Bản án 72/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 21/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài N phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 22/2020/HSST Tuyên án 22/04/2020
Phúc thẩm — đang xem Bản án 72/2020/HS-PT Tuyên án 21/07/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài N - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 250 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2020/HS-PT
Ngày: 21-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Quí.

Ông Nguyễn Quyến.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21-7-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 65/2020/TLPT-HS ngày 01-6-2020, đối với bị cáo Nguyễn Hoài N, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 22/2020/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận C.

- Bị cáo kháng cáo :

Nguyễn Hoài N; sinh năm 1993, tại thành phố Cần Thơ. Nơi cư trú: Khu vực T, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hồng V và bà: Phùng Thị T1; có vợ: Nguyễn Thị Hồng Y và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam: 01-11-2019. Có mặt.

Trong vụ án còn có 01 bị cáo khác, nhưng không có kháng cáo.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 01-11-2019, Công an thành phố Cần Thơ kết hợp với Công an phường L, quận C, tuần tra trên địa bàn. Phát hiện Nguyễn Hoài N đang điều khiển xe mô tô, chở Huỳnh Văn N1 trên đường Nguyễn Việt D, phía trước quán cà phê B khu vực Y1, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Đã tiền hành kiểm tra hành chính. Thu giữ 01 gói ni lông chứa 0,2531 gr Methamphetamine.

Tiếp tục khám xét khẩn cấp nơi ở của Lưu Văn H tại khu vực Y3, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Thu giữ 02 gói ni lông, trong đó 01 gói chứa 0,0260 gr Methamphetamine và 01 gói chứa 3,9519 gr Methamphetamine. Ngoài ra, còn thu giữ 01 cân điện tử, 01 ống thủy tinh, 01 cây kéo, 5 bọc ni lông, 01 bình tự chế, 2 điện thoại di động và 500.000đ.

Kết quả điều tra đã xác định được như sau:

H đã mua số ma túy nói trên từ Thành phố M. Ngày 01-11-2019, N mượn tiền của N1, rồi đến hẻm 4 Võ T2, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ, mua gói ma túy nói trên của H với giá 300.000đ, để mang về sử dụng. N đã bị bắt quả tang trên đường.

Tại bản án số 22/2020/HSST ngày 22-4-2020, Tòa án nhân dân quận C đã áp dụng điểm c khoản 1, Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Hoài N 02 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, còn có các quyết định về: Hình phạt đối với 01 bị cáo khác; xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.

Sau khi tuyên án sơ thẩm: Ngày 04-5-2020, bị cáo N kháng cáo, xin giảm mức hình phạt, với lý do: cha mẹ già, con còn nhỏ, không ai chăm sóc và nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.

Kiểm sát viên nhận định: Bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình. Nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.

Bị cáo đã bị bắt quả tang với vật chứng là 0,2531 gr Methamphetamine trên đường vận chuyển về nhà. Xét xử bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Khi lượng hình,Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Tội phạm xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gián tiếp lưu hành trái phép các chất ma túy, gây suy giảm sức khỏe của cộng đồng, đồng thời cũng là mầm móng phát sinh các hành vi phạm pháp và phạm tội khác. Trong tình hình các tội phạm về ma túy còn xảy ra nhiều, diễn biến vô cùng phức tạp. Thủ đoạn che giấu ngày càng tinh vi. Người phạm tội ngày càng manh động và hung hãn chống đối khi bị truy bắt. Mức độ và quy mô phạm tội ngày càng lớn. Mức hình phạt đã tuyên như vậy, là không nặng, là cần thiết để bảo đảm tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Nên giữ nguyên, như kết luận của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài N phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Hoài N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 - 11 - 2019.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.

Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ