vanban.org

Bản án 72/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 10/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Cao T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoang Cao T tội Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Cao T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2020/HS-PT
Ngày: 10 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Minh Hồng

Các Thẩm phán:

Ông Lê Hoài Nam

Ông Mai Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trâm – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2020/TLPT-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo Hoàng Cao T do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh.

- Bị cáo bị kháng nghị: Hoàng Cao T, sinh năm 1991; Giới tính: nam; ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm Đ, xã Xuân T, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1966, con bà Cao Thị T, sinh năm 1973; gia đình có 2 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ Lê Thị Thuỳ T, sinh năm 1998; có 01 con sinh năm 2020; Nhân thân: Ngày 06-6-2011 TAND tỉnh Nam Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 25-12-2011 chấp hành xong án; Ngày 28-12-2014 Công an huyện Xuân Trường xử phạt “Cảnh cáo” về hành vi trộm cắp tài sản.

Tiền án: Ngày 23-3-2015 TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12-12-2015 chấp hành xong án; Ngày 16-5-2016 TAND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 19-10-2018 chấp hành xong án. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-01-2020. Có mặt.

- Bị hại: Anh Trịnh Văn D, sinh năm 1996; Trú tại: Xóm An Định, xã Trực Chính, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 29-11-2019 Hoàng Cao T đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 18F1 – 069.35 từ nhà đi theo đường QL21B lên thành phố Nam Định. Đến khoảng 19 giờ 40’ cùng ngày, khi T đang dừng xe tại ngã tư cầu Điện Biên, thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, T quan sát thấy anh Trịnh Văn D đang đi bộ, vừa đi vừa cầm điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus màu xanh ở tay phải để gọi điện. T nảy sinh ý định giật chiếc điện thoại của anh D. T điều khiển xe máy đi theo rồi vượt qua anh D khoảng 10m thì dừng lại ở lòng đường bên phải trước Quỹ tín dụng nhân dân thị trấn Cổ Lễ. T ngồi trên xe, giả vờ lấy điện thoại ra nghe rồi cất luôn vào túi ngồi quay lại quan sát anh D đi về phía mình để tìm cơ hội giật chiếc điện thoại. Khi anh D đi qua T khoảng 2m, T tăng ga điều khiển xe vượt lên đi sát về phía bên phải đến ngang vị trí anh D, T đưa tay trái giật lấy chiếc điện thoại của anh D đang cầm trên tay phải rồi tăng ga bỏ chạy. Anh D chạy đuổi theo hô “Cướp, cướp…” nhưng không đuổi được. T điều khiển xe máy chạy đến ngã tư đường TL487 giao nhau với đường Hữu Nghị, thị trấn Cổ lễ rồi rẽ phải theo đường Hữu Nghị ra đường QL21B đi về phía cầu lạc Quần. Khi đi đến chân cầu Lạc Quần thuộc xã Việt Hùng, T đi xuống dưới gầm cầu và tháo 02 thẻ sim trong điện thoại vừa giật được vứt đi. Về đến nhà, T giấu chiếc điện thoại vào trong tủ quần áo trong phòng ngủ của mình. Khoảng 14 giờ ngày 30-11-2019, T đem chiếc điện thoại giật được đến cửa hàng điện thoại Thành Nam của anh Ngô Thành N ở xã Xuân Đài, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định để nhờ phá mật khẩu màn hình hết 150.000 đồng. Sau đó, T đem chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại Sang Mobile của anh Nguyễn Thanh Sang ở xã Xuân Phú, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định bán nhưng anh Sang không mua. Khoảng 10 giờ ngày 01-12-2019, T đem chiếc điện thoại giật được đến cửa hàng điện thoại Đoàn Thơ 2 của anh Nguyễn Thành T ở thị trấn Ngô Đồng, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định bán cho anh T với giá 4.800.000 đồng. T đã ăn tiêu hết số tiền trên.

Ngày 29-11-2019 anh Trịnh Văn D có đơn trình báo Công an huyện Trực Ninh về việc bị cướp giật chiếc điện thoại. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện Trực Ninh đã xác định Hoàng Cao T là người đã giật chiếc điện thoại của anh D.

Sau khi mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus màu xanh của T, anh Nguyễn Thành T đã bán chiếc điện thoại này cho người khác nên không thu hồi được. Đối với 02 thẻ sim điện thoại trong chiếc điện thoại T cướp giật của anh D, T đã vứt ở khu vực gầm cầu Lạc Quần cũng không thu hồi được.

Bản kết luận giám định tài sản số 01/KLGĐ ngày 07-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Trực Ninh kết luận: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 Plus màu xanh có giá trị 7.800.000đồng.

Với nội dung vụ án nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2020/HS-ST ngày 01-7-2020 của Toà án nhân dân huyện Trực Ninh, đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Cao T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ: điểm i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 BLHS. Xử phạt Hoàng Cao T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (03-01-2020).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13-7-2020, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh đã có kháng nghị với nội dung: Hành vi của T dùng xe mô tô để thực hiện việc cướp giật điện thoại của anh D đang đi bộ cùng chiều là “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Vì vậy T phải chịu trách nhiệm hình sự với 02 tình tiết định khung theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm”. Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng Hoàng Cao T phải chịu 02 tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự

Tại phiên toà:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định: Giữ nguyên nội dung kháng nghị và kết luận về vụ án: Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Cướp giật tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo T dùng xe mô tô để thực hiện việc cướp giật điện thoại của anh D đang đi bộ cùng chiều là “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Vì vậy T phải chịu trách nhiệm hình sự với 02 tình tiết định khung theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Tái phạm nguy hiểm”.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát huyện Trực Ninh, áp dụng tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hoàng Cao T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần thủ tục: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh làm trong thời hạn luật định, được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét thấy: Khoảng 19 giờ ngày 29-11-2019, tại đường tỉnh lộ 487 thuộc tổ dân phố Đình Cựu, thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, Hoàng Cao T đã có hành vi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 18F1 – 06395 đi áp sát anh Trịnh Văn D đang đi bộ cùng chiều và giật của anh D 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy S9 Plus màu xanh rồi tăng ga bỏ chạy.

Kết luận giám định tài sản số 01/KLGĐ ngày 07-01-2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Trực Ninh kết luận: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S9 Plus màu xanh có giá trị 7.800.000đồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập, qua quá trình tranh tụng tại phiên toà. Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng Cao T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự. Bị cáo T đã có 02 tiền án chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm sự với tình tiết định khung được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo Hoàng Cao T đã sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật chiếc điện thoại của anh Trịnh Văn D đang đi bộ. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 thì việc sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật tài sản của Hoàng Cao T là thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Do vậy, Hoàng Cao T còn phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Việc Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận áp dụng tình tiết định khung được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự đối với Hoàng Cao T là chưa đầy đủ. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh là có căn cứ, được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Sửa bản án sơ thẩm.

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Cao T phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Căn cứ: điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Cao T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03-01-2020.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ