- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh Q phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại là bà Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2020/HS-PT Ngày 22 - 12- 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Hưng và ông Nguyễn Văn Hoan.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Tống Thị Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 22/12/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2020/TLPT-HS ngày 06/11/2020 đối với bị cáo Nguyễn Anh Q, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Q và bị hại là bà Lê Thị T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Anh Q, sinh năm 1996; nơi sinh và đăng ký HKTT: Thôn P, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12 (tại phiên tòa sơ thẩm Q khai Lớp 9/12); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Đ (đã chết) và bà Đào Thị K; có vợ là Hoàng Thị N và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, vắng mặt.
* Bị hại có kháng cáo: Bà Lê Thị T, sinh năm 1949, vắng mặt.
Trú tại: Thôn A, xã T, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.
Nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã H, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ ngày 05/01/2020 tại nhà ông Đào Bá Y, sinh năm 1940 ở thôn A, xã T, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên có ông Y, bà Lê Thị T (là vợ thứ hai của ông Y) sinh năm 1949, anh Đào Bá T1 (con trai ông Y), sinh năm 1980 ở Can Lộ 6, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, chị Đào Thị N, sinh năm 1982 (vợ anh T2), Nguyễn Anh Q (cháu ngoại ông Y), sinh năm 1996 trú tại: Thôn P, xã M, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên và anh T2rần Đức T, sinh năm 1985 trú tại: Số 18, phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; ngồi ở nhà nói chuyện nội bộ gia đình với nhau. Trong quá trình nói chuyện do mâu thuẫn gia đình nên anh Đào Bá T1 dùng tay đập vỡ chuyên uống nước bằng sứ nhà ông Y; ông Y cầm cốc thủy tinh trên bàn định ném thì chị N và anh T2 can ngăn nên ông Y không ném được. Sau đó, Nguyễn Anh Q đã túm bả vai bên trái kéo bà Lê Thị T ra ngoài sân. Ông Y tưởng Q đánh bà T nên chạy đuổi theo Q ra ngoài sân dùng tay đấm 02 phát vào phần gáy và phần bả vai phía sau của Q. Lúc này Q tức giận vì bị ông Y đánh nên đã dùng tay đẩy bà T ngã đập người vào chậu hoa cảnh bằng xi măng. Sau khi bị ngã bà T tiếp tục nói “chúng mày đánh tao đi”. Q liền bê phần đôn chậu hoa định ném bà T thì chị N và anh T2 vào can ngăn không cho Q ném bà T. Bà T bị thương tích được đưa đi bệnh viện cứu chữa và điều trị.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 29/2020/TgT ngày 06/3/2020 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh Hưng Yên, kết luận bà T bị: Gãy cung trước các xương sườn 6, 7, 8, 9, 10 và gãy cung sau xương sườn 10, 11 bên phải, can xương đang phát triển, thẳng trục (xương sườn số 10 gãy hai điểm). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 12%. Cơ chế hình thành thương tích là do tác động bởi dạng vật tày cứng gây nên.
Đối với hành vi ông Đào Bá Y dùng tay đấm Nguyễn Anh Q, do Q không đề nghị giám định thương tích và cũng không có yêu cầu gì đối với ông Y nên Công an huyện Phù Cừ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) đối với ông Đào Bá Y về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.
Đối với việc anh Đào Bá T1 dùng tay đập vỡ 01 chuyên uống nước bằng sứ của ông Y trị giá 80.000 đồng, ông Y không yêu cầu anh T2 phải bồi thường thiệt hại tài sản nên Công an huyện Phù Cừ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) đối với anh T2 về hành vi hủy hoại tài sản.
Việc bà Lê Thị T khai ngoài Nguyễn Anh Q là người gây thương tích cho bà thì còn có anh T2 và chị N cũng có hành vi đánh và gây thương tích cho bà T, nhưng trong quá trình điều tra, xác minh không đủ căn cứ chứng minh việc anh T2, chị N có tham gia đánh và gây thương tích cho bà T nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị T yêu cầu Nguyễn Anh Q phải bồi thường các khoản chi phí điều trị, tiền công chăm sóc, tiền mất thu nhập, tiền xe đi lại, bồi dưỡng sức khỏe và tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HS-ST ngày 29/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã áp dụng Khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các điều 357, 468, 584, 585 và 590 của Bộ luật Dân sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 01 năm 03 tháng tù về Tội cố ý gây thương tích; buộc bị cáo Q phải bồi thường cho bà T tổng số tiền 30.372.016 đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020 bị cáo Nguyễn Anh Q kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương; bị hại là bà Lê Thị T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm: Bị hại là bà T đã có đơn xin rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố đối với bị cáo Q, việc rút đơn của bà T là hoàn toàn tự nguyện và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo và bị hại đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Anh Q 01 năm 03 tháng tù về Tội cố ý gây thương tích, theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là phù hợp quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị hại có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1 Điều 355; Điều 359 của Bộ luật tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh T2ụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Anh Q và bị hại là bà Lê Thị T kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên kháng cáo được cấp phúc thẩm xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại và bị cáo vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy căn cứ Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo và bị hại.
. Về tội danh và hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp lời khai của bị cáo trước cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng đồng thời phù hợp khách quan với các dấu hiệu thương tích của bà Lê Thị T thể hiện trong hồ sơ bệnh án; kết luận của Trung tâm giám định pháp y Sở Y tế tỉnh Hưng Yên về tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên và cơ chế hình thành thương tích trên cơ thể của bà Lê Thị T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kết luận: Do mâu thuẫn trong nội bộ gia đình giữa bố con ông Y và mâu thuẫn giữa bà T là vợ thứ hai của ông Y với các con riêng của ông Y, dẫn đến khoảng 15 giờ ngày 05/01/2020 tại nhà của ông Đào Bá Y ở thôn A, xã T, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đã xảy ra việc tranh luận, va chạm giữa những người trong gia đình với nhau. Trong lúc cãi nhau to tiếng, Nguyễn Anh Q là cháu ngoại ông Y đã dùng tay đẩy bà T ngã đập người vào chậu hoa cảnh bằng xi măng. Hậu quả làm bà T ngã, gãy cung trước các xương sườn 6, 7, 8, 9, 10 và gãy cung sau xương sườn 10, 11 bên phải (xương sườn số 10 gãy 02 điểm), gây tổn thương cơ thể 12% sức khỏe đối với bà T. Bởi hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 01 năm 03 tháng tù về Tội cố ý gây thương tích, theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại là bà Lê Thị T. Hội đồng xét xử xét thấy: Vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại là bà Lê Thị T, theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự. Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm đã khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Anh Q theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì bị hại có quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án. Tại cấp phúc thẩm, bị hại là bà Lê Thị T có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án đối với bị cáo Nguyễn Anh Q. Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại là tự nguyện, không bị ép buộc, không trái với quy định của pháp luật, nên có căn cứ chấp nhận đề nghị rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại. Do bị hại bà Lê Thị T rút yêu cầu khởi tố vụ án nên không còn căn cứ để xem xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Q và kháng cáo của bị hại. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, việc cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án, không phải do lỗi của Tòa cấp sơ thẩm. Do bản án sơ thẩm bị hủy, nên bị cáo Q có quyền nhận lại số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Phù Cừ.
Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 2 Điều 155; điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố vụ án của bị hại là bà Lê Thị T.
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HSST ngày 29/9/2020 của Tòa
án nhân dân huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên và đình chỉ vụ án.
2. Trả lại bị cáo Nguyễn Anh Q số tiền 5.000.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi
hành án huyện Phù Cừ.
3. Về án phí: Bị hại và bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ KTGĐ I - TAND tối cao; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên; - TAND huyện Phù Cừ; - VKSND huyện Phù Cừ; - Công an huyện Phù Cừ; - Chi cục THADS huyện Phù Cừ; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, Tòa HC. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Phượng |