vanban.org

Bản án 72/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị L xin ly hôn anh P"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 72/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 17 /8/2020
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Ánh Tuyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/- Bà Phạm Thị Phượng;

2/- Ông Huỳnh Ngọc Trứ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Cảnh – Thẩm phán Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Liễu – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 160/2020/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1/- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kiều L, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện L tỉnh Tiền Giang.

2/- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn P, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp T, xã H, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Chị L và anh P vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều L trình bày:

Chị và anh Huỳnh Văn P là vợ chồng theo giấy chứng nhận kết hôn số 19 do Ủy ban nhân dân xã Hiệp Đức cấp ngày 11/4/2016. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng có nhiều xung đột, hôn nhân không hạnh phúc, anh P không có trách nhiệm với gia đình, chị và anh P đã ly thân từ cuối năm 2019 đến nay. Do mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.

Về con chung: Giữa chị và anh P có 01 con chung tên Huỳnh Đăng K, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2018. Ly hôn chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con.

- Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Huỳnh Văn P không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ.

*Tại phiên phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kiều L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Huỳnh Văn P vắng mặt không lý do.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xác định: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự chưa phát hiện vi phạm nên không kiến nghị gì. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Chị Huỳnh Thị Kiều L là nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L.

Anh Huỳnh Văn P là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P.

. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Huỳnh Thị Kiều L giao nộp 01 giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 11/4/2016 của Ủy ban nhân dân xã Hiệp Đức nên Hội đồng xét xử xác định giữa chị Huỳnh Thị Kiều L và anh Huỳnh Văn P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Theo đơn khởi kiện, chị L xác định giữa chị và anh P phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh P là chồng mà không quan tâm đến gia đình, cả hai đã ly thân nhau từ cuối năm 2019 đến nay không hàn gắn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Anh P không có văn bản phản đối yêu cầu ly hôn của chị L, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa chứng tỏ nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định anh P không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân với chị L và lời trình bày cị L về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ.

Thấy rằng: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh P là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh P là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình.

. Về con chung:

Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con.

Anh P không có văn bản thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Con chung của chị L và anh P chưa đủ 36 tháng tuổi đang sống ổn định với chị L nên yêu cầu nuôi con chung của chị L là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con là trên cơ sở tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết.

. Về án phí:

Chị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYEÁT ÑÒNH:

* Căn cứ vào:

- Điểm a, b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Xử:

1. Chấp nhận cho chị Huỳnh Thị Kiều L được ly hôn với anh Huỳnh Văn P.

2. Con chung:

Giao 01 con chung tên Huỳnh Đăng K, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2018 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Ghi nhận chị L không yêu cầu anh P cấp dưỡng cho con.

Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được ngăn cản.

3. Về án phí:

Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0728 ngày 25/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy nên chị L không phải nộp tiếp tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị L và anh P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Nôi nhaän:

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM -TAND Tænh Tieàn Giang;

Thaåm phaùn – Chuû toaï phieân toaø -VKSND TX Cai Lậy;

- Chi cuïc THADS TX Cai Lậy;

- Caùc ñöông sự: L, P;

- UBND xã Hiệp Đức, huyện Cai Lậy;

- Löu: HS, VT.

Hồ Thị Ánh Tuyết

Cỡ chữ