vanban.org

Bản án 72/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/07/2020 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đào Văn H.

Về con chung: Giao chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đào Khánh L, sinh ngày 12/5/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đào Văn H cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đào Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2020.
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mạc Minh Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khóa và bà Dương Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu - Thư ký TAND tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2020/TLST-HNGĐ ngày 04/5/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13/7/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H - sinh năm 1999.

Địa chỉ: Thôn TC, xã PH, huyện TH, tỉnh HD.

- Bị đơn: Anh Đào Văn H - sinh năm 1993.

Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Thôn TC, xã PH, huyện TH, tỉnh HD. Nơi cư trú hiện nay: Đài Loan.

Chị H và anh H đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, chị H trình bày: Chị và anh H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn vào ngày 12/12/2017 tại UBND xã HT, huyện TN, HP. Sau khi kết hôn vợ chồng ở cùng bố mẹ chồng một thời gian thì vợ chồng chuyển khẩu về ngoại sống tại thôn Thôn TC, xã PH, huyện TH, tỉnh HD. Tháng 6 năm 2018 anh H đi lao động tại Đài Loan, thời gian đầu vợ chồng vẫn còn tình cảm, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng sống xa cách, không tin tưởng về tình cảm nên thường xuyên cãi vã, chị có yêu cầu anh H về nước để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh H không đồng ý. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 01 con chung là Đào Khánh L, sinh ngày 12/5/2018, hiện con đang ở cùng chị. Nếu ly hôn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con và tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị tự nguyện chịu cả 300.000 đồng án phí ly hôn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Đài Loan vì vợ chồng không liên lạc từ năm 2019.

- Bà Bùi Thị H (mẹ đẻ anh H) đều trình bày: Anh H và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện năm 2017, sau khi kết hôn anh chị sống cùng ông bà đến đầu năm 2018 thì chuyển hộ khẩu và về sinh sống cùng mẹ đẻ của chị H tại Hải Dương. Tháng 6 năm 2018 anh H đi lao động tại Đài Loan, mẹ con chị H vẫn sống tại nhà ngoại, thi thoảng bà điện thoại bảo chị H đưa cháu về thăm ông bà thì chị H mới đưa con về, chị H ít khi tự liên lạc với gia đình chồng. Anh H thường xuyên liên lạc về gia đình, qua gọi điện cho anh H thì bà được biết anh chị có mẫu thuẫn, nguyên nhân cụ thể bà không nắm bắt được. Sau khi nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản của Tòa án, bà đã thông báo qua điện thoại cho anh H biết về việc chị H làm đơn xin ly hôn và yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung. Anh H không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể ở Đài Loan và không trình bày ý kiến bằng văn bản gửi về cho Tòa án, nhưng có ý kiến nếu chị H kiên quyết xin ly hôn thì anh cũng nhất trí ly hôn. Về con chung anh H và gia đình nhất trí giao con cho chị H nuôi, sau này anh H về nước, anh H sẽ đề nghị được nuôi con sau. Về tài sản: Chị H không yêu cầu nên anh H và bà cũng không đề nghị giải quyết.

Tại công văn số 6743/QLXNC-P5 ngày 19/5/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác định anh Đào Văn H, khai địa chỉ thường trú tại: Thôn 10, xã HT, huyện TN, HP xuất cảnh lần cuối ngày 13/6/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xác định việc chấp hành tố tụng của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng cơ bản đảm bảo quy định của pháp luật tuy nhiên việc thu thập tài liệu và thời hạn chuẩn bị xét xử chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 476 BLTTDS; đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn tiếp tục cung cấp địa chỉ của bị đơn đến hết thời hạn chuẩn bị xét xử nên không phát biểu quan điểm về đường lối giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xin xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H.

Anh Đào Văn H là bị đơn trong vụ án là người Việt Nam đang lao động tại Đài Loan nhưng không rõ địa chỉ, tuy nhiên anh H vẫn thường xuyên liên lạc với thân nhân ở trong nước. Tòa án đã yêu cầu chị H cũng như mẹ đẻ anh H cung cấp địa chỉ của anh H nhưng không có kết quả, nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tòa án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bị đơn cho đến khi hết thời hạn xét xử theo Điều 476 BLTTDS. Đây là trường hợp bị đơn giấu địa chỉ nên không thực hiện theo quy định tại Điều 476 BLTTDS và không thuộc trường hợp tạm ngừng phiên tòa. Mặt khác, Tòa án đã tiến hành làm việc với gia đình anh H là bà Bùi Thị Huệ (mẹ đẻ của anh H) và đã yêu cầu bà cung cấp địa chỉ của anh H tại nước ngoài tuy nhiên bà không cung cấp được, do vậy Tòa án đã tống đạt những văn bản tố tụng cho anh H thông qua bà Huệ, bà đã thông báo nội dung văn bản cho anh H là phù hợp với quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không có cơ sở chấp nhận.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 12/12/2017 tại UBND xã HT, huyện TN, HP. Do đó hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, chị H và anh H sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, theo chị H nguyên nhân mâu thuẫn do tháng 6/2018 anh H đi lao động tại Đài Loan, vợ chồng xa cách, không tin tưởng về tình cảm nên thường xuyên cãi vã; thông qua bà H là mẹ đẻ anh H cho biết quan điểm anh H cũng xác định vợ chồng đã mâu thuẫn từ lâu, nhất trí ly hôn. Xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn anh H là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đào Khánh L, sinh ngày 12/5/2018, hiện đang được chị H chăm sóc và nuôi dưỡng. Quan điểm của chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét nguyện vọng của chị H xin được nuôi con thì thấy: hiện tại anh H đang ở nước ngoài, con chung của anh chị hiện vẫn còn nhỏ và đang do chị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh H cũng nhất trí để chị H nuôi con theo quy định của pháp luật. Do vậy cần giao con Đào Khánh L cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi và chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đào Văn H.

2. Về con chung: Giao chị Phạm Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đào Khánh L, sinh ngày 12/5/2018 cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đào Văn H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0002123 ngày 29/4/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp xong án phí sơ thẩm ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh H đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ