- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Kim P ly hôn Trần Văn L"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn L.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2020/HNGĐ-ST Ngày: 12-8-2020 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Xươnne
2. Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 250/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 192/2020/QĐXX-ST ngày 24 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim P, sinh năm: 1985
Địa chỉ: số 137/12/6, đường Thoại Ngọc Hầu, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1986
Địa chỉ: số nhà 2223/1, ấp Kinh Ngây, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
(Các đương sự cùng có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/5/2020 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Kim P trình bày:
Chị Phúc và anh Trần Văn L kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống không hạnh phúc nên chị Phúc và anh Lừng đã ly thân từ tháng 2/2020 cho đến nay.
Về con chung: chị Phúc và anh Lừng có 02 con chung tên là: Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014. Hiện cả 02 con chung đang ở cùng với anh Lừng.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Nay chị Phúc yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn L.
Về con chung: Chị Phúc yêu cầu được nuôi hết 02 con chung và yêu cầu anh Lừng cấp dưỡng nuôi con theo quy định.
Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên Tòa, chị Phúc có ý kiến chỉ yêu cầu nuôi 01 con chung là cháu Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014. Đồng ý giao con chung là cháu Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 cho anh Trần Văn L nuôi dưỡng, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Tại Bản tự khai ngày 24/6/2020 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, bị đơn là anh Trần Văn L trình bày:
Anh L đồng ý ly hôn với Nguyễn Kim P Trong quá trình chung sống, anh Lừng và chị Phúc có 02 con chung tên là Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014. Hiện đang ở cùng với anh L.
Anh L yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và tư cách của người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy quan hệ vợ chồng giữa chị P và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P, cho chị P được ly hôn với anh L.
Về con chung: Do 02 con chung là Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014 hiện đang ở cùng với anh Lừng từ lúc vợ chồng ly thân cho đến nay, đồng thời theo nguyện vọng của cháu Q cũng mong muốn ở cùng với anh L. Vì vậy, để tranh những xáo trộn trong đời sống của 02 con chung, đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao 02 con chung cho anh L nuôi dưỡng
Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh Lừng không có yêu cầu chị Phúc phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Bỡi lẽ, nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý ly hôn, vì vậy, cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ và chính đáng, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật
Về con chung: theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên là: Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014.
Xét thấy, tại phiên Tòa, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận cả 02 con chung hiện đang do bị đơn nuôi dưỡng từ lúc vợ chồng ly thân cho đến nay và 02 con chung vẫn phát triển bình thường. Trong quá trình giải quyết vụ án, con chung là Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 có nguyện vọng “muốn ở với cha”. Xét thấy, để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm sinh lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung, và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Quyên. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của bị đơn, tiếp tục giao 02 con chung tên là Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014 cho bị đơn nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: tại phiên Tòa, bị đơn không yêu cầu nguyên đơn phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn và bị đơn xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
Về án phí HNST: Nguyên đơn phải chịu án phí HNST.
Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn L.
[2] Về con chung:
Giao 02 con chung tên là Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014 cho anh Trần Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị Nguyễn Kim P có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
[3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị Nguyễn Kim P không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên là Trần Thị Kim Q, sinh ngày 05/3/2009 và Trần Thảo N, sinh ngày 12/02/2014 do anh Trần Văn L không có yêu cầu.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Do chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[5] Về án phí, chi phí tố tụng: Chị Nguyễn Kim P phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm. Chị Phúc đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004177 ngày 08/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách không phải nộp tiếp.
Án xử công khai, chị Nguyễn Kim P và anh Trần Văn L có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - CCTHADS huyện Kế Sách; - UBND xã (thị trấn) cấp giấy CNKH - Lưu HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Hải Duy THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hải Duy |