vanban.org

Bản án 72/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Đổ Thị T và anh Đặng Thanh T1 là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đổ Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0010404 ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Đổ Thị T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Đổ Thị T tranh chấp ly hôn anh Đặng Thanh T1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Đổ Thị T và anh Đặng Thanh T1 là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI,TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2020/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 3- 2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 117/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đổ Thị T, sinh năm 1975 (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Đặng Thanh T1, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Cùng cư trú tại: Ấp XR, xã QPB, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Đổ Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Đổ Hồng T và anh Đặng Thanh T1 chung sống vào năm 1994, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống do anh T1 không chung thủy và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, anh chị đã ly thân từ tháng 12/2019 cho đến nay. Nay chị T xét thấy không thể chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho chị được ly hôn anh T1.

- Về con chung: Có hai người con chung tên Đặng Lan H, sinh năm 1995 và Đặng Chí L, sinh năm 2000 đang sống chung với chị và anh T1. Khi ly hôn, các con đã trưởng thành chị T không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ người khác, người khác nợ lại: Không có.

* Bị đơn anh Đặng Thanh T1 trình bày:

- Về hôn nhân: Về ngày tháng năm tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn là đúng. Về việc chị T khai anh có quan hệ với người phụ nữ khác là không có. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải và ly thân từ tháng 12/2019 cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn anh đồng ý.

- Về con chung: Đặng Lan H và Đặng Chí L đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ người khác và người khác nợ lại: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Đổ Thị T và anh Đặng Thanh T1 có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Đổ Thị T và anh Đặng Thanh T1 kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện, không đăng ký kết hôn. Chị T có yêu cầu ly hôn, anh T1 đồng ý. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình của Quốc hội quy định “Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 trở đi …nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là vợ chồng…”. Do đó, khi xác L mối quan hệ hôn nhân anh chị không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Xét thấy hiện nay các con chung của anh chị đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét việc nuôi con.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ người khác và người khác nợ lại: Anh chị xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 14, các Điều 15, 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Đổ Thị T và anh Đặng Thanh T1 là vợ chồng.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đổ Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0010404 ngày 28 tháng 02 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị Đổ Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ