vanban.org

Bản án 72/2020/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

Buộc ông Nguyễn Hoàng K có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 10.340.000đ (Mười triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Bồi thường thiệt hại về sức khỏe"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2020/DS-ST
Ngày 17/6/2020
V/v tranh chấp BTTH ngoài hợp
đồng về sức khỏe.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thị Mỹ Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bảnh

2. Bà Trần Thị Bé Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 17/6/2020, tại trụ sở TAND huyện Vị Thủy mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2020/TLST – DS ngày 15/01/2020 về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐST-DS, ngày 18/5/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1973.

Địa chỉ: ấp 9B, xã V, huyện T, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1975.

Địa chỉ: ấp 9A1, xã V, huyện T, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2019 nguyên đơn ông Nguyễn Văn N trình bày: Vào ngày 30/5/2019, bà Nguyễn Thị Hồng A cãi nhau với gia đình ông Nguyễn Hoàng A1 thì ông có ra can ngăn nên bị ông Nguyễn Hoàng K dùng đá 4 x 6 đánh trúng vào mắt trái. Sau đó ông có đến Công an xã Vị Bình để trình báo và được gia đình đưa vào trạm y tế xã Vị Bình để điều trị, do vết thương nặng nên ông được chuyển đến Bệnh viện Quân y 121. Tại đây ông được chẩn đoán “chấn động não, chấn thương phần mềm mắt, vết thương phần mềm cung mày 03 cm” và ông nhập viện điều trị từ ngày 30/5/2019 đến ngày 05/6/2019. Sự việc được Công an xã Vị Bình lập biên bản sự việc.

Nay ông yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền tổng cộng là 17.220.000 đồng, bao gồm các khoản:

1. Tiền thuốc và viện phí khi điều trị là 6.250.000 đồng.

2. Tiền mất thu nhập khi nằm viện là 1.400.000 đồng.

3. Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh là 1.400.000 đồng.

4. Tiền tổn thất tinh thần là 4.470.000 đồng.

5. Tiền thuê phương tiện đi cấp cứu và chuyển viện là 1.000.000 đồng.

6. Tiền ăn bồi dưỡng phục hồi sức khỏe trong thời gian nằm viện 700.000 đồng.

7. Tiền phẫu thuật khắc phục thẩm mỹ sẹo tại mắt trái là 2.000.000 đồng.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 17/01/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hoàng K trình bày: Sáng ngày 30/5/2019, bà Nguyễn Thị C và bà Hồng T cãi nhau về vấn đề ông Nguyễn Hoàng V (con ruột bà C ở cùng nhà bà C) nợ tiền bà T và và bà A. Sau đó ông N chạy xe đến nhà bà C rồi cùng tham gia cãi nhau. Ông N nói bà A cướp đoạt tài sản của ông V nên bà A và bà T chạy vô nhà ông vừa khóc vừa kể lại lời ông N nói nên ông có đi ra nói chuyện với ông N nhưng ông N không nghe mà còn chửi tục nên ông có đánh ông N 01 cái bằng tay phải trúng vào mí mắt trái của ông N, có chảy máu. Sau đó ông Hoàng A1 rượt đánh ông nên ông chạy vào nhà và ai đưa ông N đi bệnh viện thì ông không biết. Ông khẳng định không dùng đá đánh ông N, ông đánh bằng tay vào mí mắt ông N.

Ông K đã bị Công an xã Vị Bình xử phạt hành chính 2.500.000 đ và ông đã nộp phạt. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và ông N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở khẳng định ông K đánh ông N bằng đá 4 x 6. Do đó căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông N đã nộp các hóa đơn, chứng từ điều trị, bản sao các biên bản làm việc của Công an xã Vị Bình và Công văn trao đổi giữa Công an xã Vị Bình và Công an huyện Vị Thủy.

Tại phiên ông N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về tiền thuốc, tiền ông bị mất thu nhập, tiền phẩu thuật thẩm mỹ sẹo do bị đánh. Riêng về tiền tổn thất tinh thần ông chỉ yêu cầu 01 tháng lương cơ sở và yêu cầu bồi thường tiền thuê bà Nguyễn Thị C chăm sóc là 700.000 đ. Ông K không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông N chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc và tiền xe đi về khi điều trị.

Kiểm sát viên phát biểu về việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các bên đương sự là đúng pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí các đương sự phải chịu theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N yêu cầu ông Nguyễn Hoàng K bồi thường thiệt hại về sức khỏe nên Hội đồng xét xử xác định là “tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung khởi kiện: Ông Nguyễn Văn N yêu cầu ông Nguyễn Hoàng K bồi thường thiệt hại thương tích tại vùng mắt do ông Nguyễn Hoàng K gây ra. Xét thấy ông Nguyễn Hoàng K thừa nhận có gây thương tích tại vùng mắt như ông N trình bày nên ông N không phải chứng minh. Ông K đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hậu quả là gây thiệt hại cho sức khỏe của ông N. Do đó, ông K có trách nhiệm bồi thường cho ông N là phù hợp. Tuy nhiên, ông K chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc, không đồng ý bồi thường các khoản khác. Tại phiên tòa, ông K đồng ý bồi thường tiền thuốc theo toa và bồi thường tiền xe lượt đi và về là 500.000đ.

Căn cứ vào quy định tại theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự, người bị thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm có quyền yêu cầu bồi thường chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, giảm sút, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị thiệt hại và người chăm sóc trong thời gian điều trị. Ngoài ra, người gây thiệt hại còn có thể phải trả thêm một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại. Từ những quy định trên để xem xét các yêu cầu của ông N thì ông N cần cung cấp chứng cứ chứng minh thiệt hại của mình. Xét thấy ông N nhập viện điều trị từ ngày 30/5/2019 đến ngày 05/6/2019. Ông N yêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị là 6.250.000đ qua tổng tiền các hóa đơn chi phí điều trị do ông N cung cấp là 6.264.074 nên yêu cầu của ông N về tiền thuốc là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bên cạnh đó ông N yêu cầu bồi thường tiền xe chuyển viện, tiền phẫu thuật thẩm mỹ sẹo nhưng không cung cấp được hóa đơn, chứng từ thanh toán và ông N yêu cầu bồi thường tiền ăn uống bồi dưỡng nhưng cũng thừa nhận không có chỉ định của bác sỉ nên những yêu cầu này không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên tại phiên tòa ông K đồng ý bồi thường phần tiền xe cho ông N số tiền 500.000đ là có lợi cho ông N nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của ông K.

Về thu nhập bị mất: Công việc của ông N là chạy xe Honda khách thu nhập không ổn định nhưng so với thu nhập trung bình tại địa phương đối với lao động phổ thông là 200.000đ/ngày, ông N yêu cầu bồi thường 1.400.000đ là có căn cứ.

Đối với yêu cầu chi phí thuê người chăm sóc, ông N cho rằng có thuê bà Cảnh nuôi bệnh là 700.000đ. Tại phiên tòa, ông N chỉ yêu cầu bồi tiền mất thu nhập cho người chăm sóc là 700.000 đ là phù hợp.

Xét về yêu cầu tổn thất tinh thần, xét thấy sự việc xuất phát từ mâu thuẫn giữa những người thân quen nhưng do ông N can ngăn thì bị ông K đánh. Sự việc có gây tổn thất về tinh thần nhưng mức độ không lớn. Tại phiên tòa ông N chỉ yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 01 tháng lương cơ sở. Xét thấy yêu cầu của ông N là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Tổng cộng các khoản được chấp nhận bồi thường là 10.340.000 đ.

Về án phí: áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Nguyên đơn phải chịu án phí tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận. Ông N được miễn án phí.

Các đương sự còn được kháng cáo theo luật định;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 5, 6, 26, 35, 39, 147, 273, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự 2015.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N.

Buộc ông Nguyễn Hoàng K có trách nhiệm bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 10.340.000đ (Mười triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hoàng K phải nộp số tiền 517.000đ (Năm trăm mười bảy ngàn đồng)

Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ