- Tranh chấp gì? án hình sự — "Danh Thanh T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2019/HS-ST Ngày 07/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Danh Minh Hòa
2/ Ông Nguyễn Duy Khƣơng
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2019/HS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2019 về tội “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:
Danh Thanh T; sinh năm 1991; Nơi cư trú: ấp ML, xã MH, huyện CT, KG; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Đạo phật; Con ông Danh T1 (chết) và bà Thị L, sinh năm 1955; T2 án, T2 sự: Không.
Tuy nhiên:
- Vào ngày 07/8/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia” tại bản án số 136/2007/HSST ngày 07/8/2007 do tại thời điểm phạm tội bị cáo vẫn chưa thành niên nên được xem là không có T2 án.
- Vào ngày 04/12/2007 bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ra quyết định số: 1633/QĐ-UBND đưa vào trường giáo dưỡng số 5 để giáo dục 24 tháng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
- Ngày 01/7/2010 bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang ra quyết định số: 1477/QĐ-UB đưa vào trường giáo dưỡng Cồn Cát để giáo dục 24 tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” chấp hành xong ngày 31/10/2012.
- Ngày 10/9/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên giang xử phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 10/9/2019.
Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam tỉnh Kiên Giang (Bị cáo có mặt tại phên tòa).
Người bị hại: Anh Trần V, sinh năm 1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Trú tại: ấp ML, xã MH, huyện CT, KG
Người làm chứng: Anh Danh T2, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Trú tại: ấp AB, xã MH, huyện CT, tỉnh KG
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 24 tháng 4 năm 2019, Danh Thanh T cùng với Danh Th đi đến đám phước cầu an tại khu dân cư ấp Minh Long, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang gần nhà T để chơi, khi đi T có mang theo một cây dao xếp làm bằng kim loại dài 19cm, mũi nhọn để trong túi quần. Đến nơi T thấy Trần V, Th1, Danh T2, Giang Hoàng D và một số người khác (không xác định nhân thân, lai lịch) đang ngồi uống rượu. Lúc này V kêu Th vào uống rượu chung thì T liền nói: “Tao mày không kêu nhậu mà kêu Th nó có nhậu đâu” thì V liền trả lời: “Dầu gì tao cũng là anh của mày mà mày nói gì kì vậy”.
Sau đó giữa T và V cự cải dẫn đến đánh nhau, V dùng 01 tay câu cổ T, tay còn lại đánh vào mặt T 2 đến 3 cái. T vùng vẫy thoát ra, đồng thời dùng tay phải lấy cây dao đã đem theo đâm trúng vào vùng ngực trái của V một dao gây thương tích rồi cầm dao đi bộ về nhà, một lúc sau T bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành mời về làm việc, tại đây T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Anh V sau khi bị T gây thương tích được mọi người đưa đến bệnh viện cấp cứu, điều trị đến ngày 02 tháng 7 năm 2019 thì xuất viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 460/KL-PY ngày 31/7/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Kiên Giang đối với anh Trần V thể hiện:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo xơ cứng vùng ngực trái và sẹo phẫu thuật.
- Tổn thương màng phổi trái, tràn khí – tràn máu màng phổi, đã được điều trị ổn.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 12% (mười bốn phần trăm).
3. Vật gây thương tích:Vật sắc nhọn. Vật chứng (cây dao) gửi giám định gây được thương tích trên.
Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra đã thật thà khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Về vật chứng thu giữ trong vụ án và hướng xử lý vật chứng: Đối với những vật chứng mà cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án bao gồm: 01 cây dao (loại dao xếp), làm bằng kim loại, cân nặng 60gam, dài 19cm, phần cán dài 10,5cm gồm 02 miếng kim loại dính với nhau, phần lưỡi dài 8,5cm mũi nhọn và một bề lưỡi sắc. vật chứng trên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Trần V yêu cầu Danh Thanh T bồi thường chi phí điều trị thương tích số T2 là: 15.130.153 đồng (mười lăm triệu, một trăm ba mươi nghìn, một trăm năm mươi ba đồng). Trong đó: Chi phí khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện Châu Thành: 368.355 đồng; chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang 14.653.798 đồng và T2 tái khám 108.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nhưng hiện tại chưa có T2 bồi thường cho bị hại.
Tại bản cáo trạng số: 70/CT- VKS-CT ngày 15/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh Thanh T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Danh Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Danh Thanh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự, xử buộc bị cáo Danh Thanh T phải bồi thường cho anh Trần V số T2 15.130.153 đồng.
Về xử lý vật chứng đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 cây dao (loại dao xếp), làm bằng kim loại, cân nặng 60gam, dài 19cm, phần cán dài 10,5cm gồm 02 miếng kim loại dính với nhau, phần lưỡi dài 8,5cm mũi nhọn và một bề lưỡi sắc.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.
Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T2 hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Vào khoảng 23 giờ, ngày 24/4/2019 Danh Thanh T cùng Danh Th đi đến đám phước Cầu An ở khu dân cư ấp Minh Long, xã Minh Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang chơi thì gặp anh Trần V, anh Th1, anh Danh T2, chị Giang Hoàng D và một số người khác đang tổ chức uống rượu. Tại đây, anh V mời anh Th vào nhậu chung thì xảy ra cự cải với T, trong lúc cự cải, anh V dùng tay câu cổ và đánh vào mặt T 02-03 cái, T liền lấy cây dao xếp mang theo bên người đâm vào vùng ngực trái của anh V 01 nhát rồi bỏ đi về nhà. Theo như kết quả giám định pháp y thì hiện tại sức khoẻ của anh V bị suy giảm do thương tích gây nên là 12%. Đối chiếu theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự thì “Phạm tội Th một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: ...; đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng Th một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”. Như vậy, hành vi sử dụng dao xếp là hung khí nguy hiểm (được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự) để gây thương tích cho anh V làm cho sức khỏe anh V bị giảm súc 12% của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” như đã viện dẫn ở trên.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo nhận thức rỏ dao là hung khí vô cùng sắc bén nếu như sử dụng vào mục đích gây thương tích thì sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng cũng như sức khỏe của người khác. Mặc dù nhận thức được hậu quả gây ra là nghiêm trọng, thế nhưng chỉ vì tức giận việc bị hại có hành vi dùng tay đánh bị cáo mà bị cáo không kìm chế được bản thân cố ý dùng dao đâm bị hại, làm cho sức khỏe bị hại suy giảm 12%. Ngoài ra, qua hồ sơ thể hiện thì vào ngày 18/01/2019 bị cáo có hành vi gây thương tích cho người khác, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành ra quyết định khởi tố vụ án và tìm bắt bị cáo để điều tra. Lẻ ra khi đã một lần sai phạm bị cáo phải biết tu dưỡng, sửa đổi bản thân làm lại cuộc đời sống có ích cho xã hội. Thế nhưng với bản chất hun hãn, xem thường pháp luật bị cáo chẳng nhưng không sửa đổi mà trái lại còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cũng với lỗi cố ý gây thương tích, điều này thể hiện bị cáo vẫn không ăn năn hối cải nên HĐXX nghị án thảo luận cần có mức án nghiêm và tách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, vào ngày 10/9/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” nên cần xem xét về nhân thân bị cáo khi lượng hình và cần tổng hợp hình phạt đối với bị cáo mới là phù hợp.
Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên việc am hiểu pháp luật có phần còn hạn chế nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo khi lượng hình.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại anh Trần V có đơn xin xét xử vắng mặt và trong đơn cũng như trong hồ sơ vụ án có thể hiện rỏ anh V yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh các khoản T2 như sau: Chi phí khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa huyện Châu Thành với số T2 là 368.355 đồng; Chi phí điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang với số T2 là 14.653.798 đồng và T2 tái khám là 108.000 đồng. Tổng số T2 anh V yêu cầu bị cáo phải bồi thường là 15.130.153 đồng, ngoài số T2 trên anh V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ số T2 nào thêm, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh V nên HĐXX ghi nhận để xem xét.
Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 cây dao (loại dao xếp), làm bằng kim loại, cân nặng 60gam, dài 19cm, phần cán dài 10,5cm gồm 02 miếng kim loại dính với nhau, phần lưỡi dài 8,5cm mũi nhọn và một bề lưỡi sắc đây là hung khí bị cáo dùng để gây án đã thu giữ trong vụ án và do không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Danh Thanh T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Danh Thanh T 03 (ba) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2019/HS-ST ngày 10/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang buộc bị cáo Danh Thanh T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 25/4/2019.
Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự, xử buộc bị cáo Danh Thanh T phải bồi thường cho anh Trần V số T2 15.130.153 đồng.
Về biện pháp tư pháp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 cây dao (loại dao xếp), làm bằng kim loại, cân nặng 60gam, dài 19cm, phần cán dài 10,5cm gồm 02 miếng kim loại dính với nhau, phần lưỡi dài 8,5cm mũi nhọn và một bề lưỡi sắc.
Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 43/QĐ-VKS-CT ngày 15 tháng 10 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện huyện Châu Thành.
Về áp phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Xử buộc bị cáo Danh Thanh T phải nộp 200.000 đồng T2 án phí hình sự sơ thẩm và (15.130.153 đồng x 5%) = 756.500 đồng T2 án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Châu Thành; - Công An huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Bị cáo và bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên Tòa Nguyễn Thanh Phong |