- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con ki ly hôn"
- Tòa quyết gì? Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 72/2019/HNGĐ-ST Ngày: 15-08-2019 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và ông Phạm Xuân Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ngày 15 tháng 08 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 233/2019/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 06 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp việc nuôi con khi ly hôn” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 30 tháng 07 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đặng Minh H, sinh năm 1975 (vắng mặt) Địa chỉ: xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1977 (vắng mặt) Địa chỉ: xóm G, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo đơn khởi kiện ngày 29 tháng 05 năm 2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Đặng Minh H trình bày: Anh và chị Phạm Thị Th kết hôn với nhau vào ngày 18 tháng 02 năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Trước khi kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện, không ai lừa dối, ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc được 08 năm thì xẩy ra mâu thuẫn cho tới nay. Nguyên nhân: Do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng xúc phạm nhau và nhiều lần do không kiền chế được bản thân nên Anh đã đánh chị Th, trong cuộc sống Vợ chồng không có trách nhiệm với nhau. Vợ chồng sống ly thân và cắt mọi quan hệ từ năm 2015 đến nay. Sự việc đã được hai gia đình và đoàn thể hòa giải đoàn tụ nhưng không được. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn để giải phóng cho nhau. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung. Đặng Hồ Anh Đ, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012. Đặng Hồ Mai A, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2009. Hiện nay Anh đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, các Cháu đều khỏe mạnh. Nếu ly hôn Anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nghĩa vụ tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bị đơn chị Phạm Thị Th đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Th vắng mặt. Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn chị Phạm Thị Th vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Nguyên đơn anh Đặng Minh H vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: [2] Về Hôn nhân: Anh Đặng Minh H và chị Phạm Thị Th được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 26/2005 ngày 18 tháng 02 năm 2005, thủ tục, điều kiện kết hôn đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không phù hợp, vợ chồng không có trách nhiệm với nhau, xúc phạm đánh đập nhau. Vợ chồng sống ly thân, cắt mọi quan hệ từ năm 2015. Ủy ban nhân dân xã Đ đã xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung của vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã kiên trì vận động anh H rút đơn về đoàn tụ gia đình nhưng anh H không chấp nhận. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh H đã thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đủ cơ sở chấp nhận cho ly hôn. [3] Về nuôi con: Anh H, chị Thảo có 02 con chung. Đặng Hồ Anh Đ, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012. Đặng Hồ Mai A, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2009. Anh H đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy các cháu đang ở với anh H và có nguyện vọng ở với Anh; anh H có công việc, thu nhập ổn định và có nguyện vọng nuôi con. Để ổn định cuộc sống, học tập và bảo đảm quyền lợi mọi mặt của các cháu nên giao 02 con chung Đặng Hồ Anh Đ và Đặng Hồ Mai A cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cho chị Phạm Thị Th đến khi anh H yêu cầu. [5] Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí: Anh H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 273, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 điểm Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí của Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Đặng Minh H. 1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Đặng Minh H và chị Phạm Thị Th. 2. Về con chung: Giao hai con chung Đặng Hồ Anh Đ, sinh ngày 28 tháng 11 năm 2012 và Đặng Hồ Mai A, sinh ngày 27 tháng 02 năm 2009 cho anh Đặng Minh H tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cho chị Phạm Thị Th đến khi anh Đặng Minh H yêu cầu. Chị Phạm Thị Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị Th, anh H có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con. 3. Án phí: Anh Đặng Minh H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003731 ngày 03 tháng 06 năm 2019 của Cơ quan thi hành án dân sự huyện Yên Thành. Anh Đặng Minh H đã nộp đủ án phí. 4. Thi hành án: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 5.Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi cục THADS huyện Yên Thành; - TAND tỉnh Nghệ An - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án; - -- Lưu kết quả; - Đương sự. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội Thẩm nhân dân Nguyễn Văn Dũng Phạm Xuân Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký ) Phan Xuân Thọ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Xuân Thọ |