vanban.org

Bản án 72/2019/DSPT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/11/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp du ̣ng khoản 2 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, không chấp nhâ ̣n kháng nghị của VKSnhân dân thành phố Thái Nguyên, không chấp nhâ ̣n kháng cáo của ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan chị D và chị Y.Sử a bản án dân sự sơ thẩm số 24/2019/DS-ST, ngày 21/6/2…

Áp dụng Điều 117/BLDS; Điều 122 Luật nhà ở năm 2014.Khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, nhà H - N"
  • Tòa quyết gì? Áp du ̣ng khoản 2 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, không chấp nhâ ̣n kháng nghị của VKSnhân dân thành phố Thái Nguyên, không chấp nhâ ̣n kháng cáo của ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan chị D và chị Y.Sử a bản án dân sự sơ thẩm số 24/2019/DS-ST, ngày 21/6/2…
  • Căn cứ chính? Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC Hướng…; Điều 122 Luật nhà ở; Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn th…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 72/2019/DSPT
Ngày: 11/11/2019.
V/ v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng nhà, đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Anh Dân.

- Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và Bà Lê Thị Hồng Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Nguyễn Tuyết Vân

- Kiểm sát viên.

Trong các ngày từ ngày 05 đến ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2019/DS - PT ngày 20/8/2019 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất.Do bản án dân sự sơ thẩm số 24/2019/DS-ST, ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân thành phố Thái Nguyên có kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2019/QĐ - PT ngày 01/10/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh H, sinh năm 1963; (có mặt).

Trú tại: Tổ 04, phườ ng HVT, TP TN, tỉnh thái Nguyên.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp cho nguyên đơn

: Ông Q và N1-

́ Luâ ̣t sư, Văn phòng Luâ ̣t sư AT, Đoàn Luâ ̣t sư tinh Thả

́i Nguyên (ông N1 vắng mặt, ông Q có mặt)

2. Bị đơn: 1. Anh N, sinh năm 1982

2. Chị Th, sinh năm 1986

Đều trú tại: Tổ 18, phườ ng TĐ, TP TN, tỉnh Thái Nguyên.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Y; SN 1980.

Trú tại: Tổ 26, PĐP, Thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

Đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền: Bà Ng.

Trú tại: Tổ 28, phườ ngPĐP, TP. TN, tỉnh Thái Nguyên;

(Bà Y vắng mặt, bà Ng có mặt)

3.2. Bà D; SN 1982; (có mặt)

Trú tại: Tổ 6, phườ ng QT, TP TN, tỉnh Thái Nguyên.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp pháp cho bà Dương : Bà V và Bà B- Luâ ̣t

́ sư, Công ty luật TNHH PV, Đoàn Luâ ̣t sư TP Hà Nội (bà V có mặt, bà B vắng mặt).

3.3. Chi cục Thi hành án dân sựthành phố Thái Nguyên;

Đại diện theo ủy quyền: Bà L - Chấp hành viên. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh H, khởi kiện vợ chồng anh N và chị Th về việc yêu cầu vợ chồng anh N, chị Th tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng , nhà đất: Diê ̣n tích 142m2 (trong đó có 80m2 đất ở đô thi ̣, 62m2 đất trồng cây lâu năm ), thuô ̣c thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35 và tài sản trên đất là nhà xây 1 tầng, lợp mái tôn + prôximăng (địa chỉ thửa đất phường TĐ, TP. TN, tỉnh Thái Nguyên).

Anh H trình bày : Ngày 20/6/2018, anh có nhận chuyển nhượng của vợ

chồng anh N và chị Th diện tích đất 142m2 (trong đó có 80m2 đất ở đô thi ̣, 62m2 đất trồng cây lâu năm) thuô ̣c thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35 + tài sản trên đất là nhà xây 1 tầng, lợp mái tôn và tấm lợp prôximăng với giá 5.000.000.000đ, địa chỉ thửa đất phường TĐ, TP. TN, tỉnh Thái Nguyên (đất đã có giấy chứ ng nhâ ̣n QSD đất số CM 666581 do Sở Tài nguyên và môi trườ ng tinh Thả

́i Nguyên cấp ngày 30/5/2018, mang tên anh N chị Th), cùng ngày 20/6/2018 giữa hai bên đa lập̃ “giấy bán nhà - bán đất”, đồng thờ i anh cũng trả xong cho vợ chồng anh N, chị Th 5.000.000.000đ. Đến ngày 03/7/2018, anh và vợ chồng anh N, chị Th ký kết hợp đồng chuyển nhượng nhà , đất trên ta ̣i Văn phòng công chứ ng

TT, TP. Thái Nguyên, giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là

2.000.000.000đ. Ngày 21/8/2018, cũng tại Văn phòng công chứng TT, hai bên hủy hợp đồng ngày 03/7/2018 và ký lại hợp đồng mới , theo hợp đồng này chi ghi mua bả

́n giá 400.000.000đ, mục đích để tránh thuế chuyển quyền . Sau khi Công chứng hợp đồng chuyển nhượng, anh nộp hồ sơ chuyển nhượng vào Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TP. Thái Nguyên để làm thủ tục đăng ký sang tên, vài ngày sau khi nộp hồ sơ, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thông báo cho anh, đã có đơn đề nghị dừng việc chuyển nhượ ng QSD đất đối vớ i nhà , đất của vợ chồng anh N, chị Th. Cho đến nay anh không làm thủ tục sang tên nhà đất trên được vì lý do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên đã ban hành Quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản và Quyết định về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của anh N, chị Th (thửa đất số 113, tờ bản đồ số 35, diện tích 142m2 và nhà trên đất), để thi hành nghĩa vụ của anh N, chị Th với chị Y và chị D.

Do vâ ̣y anh khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh N , chị Th phải thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất nêu trên cho anh; Yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSD đất nhà, đất nêu trên giữa anh và vợ chồng anh N, chị Th có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn anh N trình bày: Vợ chồng anh có làm ăn cùng chi ̣ D (chị D làm tại phòng công chứng SC), chị D có biết vợ chồng anh thế chấp nhà, đất vay tiền của Ngân hàng CT Chi nhánh Thái Nguyên nên ch ị D có đặt vấn đề giúp vợ chồng anh vay sang Ngân hàng khác cao hơn , do thấy sự viê ̣c có lợi vợ chồng anh đồng ý. Chị D cùng ch ị Y ra Ngân hàng Viettinban k để chị Y chuyển số tiền 3.267.000.000đ vào Ng ân hàng và tất toán khoản tiền vay của vợ chồng anh tại Ngân hàng để lấy GCNQSD đ ất của anh ra . Chị Yê yêu cầu vợ chồng anh làm hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất sang tên chi ̣ Y để sau khi vay được ngân hàng , trả lại tiền cho chị Y thì hủy hợp đồng đó đi, trong quá trinh chờ vay vợ chồng anh

̀ phải chịu lãi 3000đ/triê ̣u/ngày, vợ chồng anh còn đưa 20.000.000đ để chi ̣ Y lo liê ̣u vay tiền Ngân hàng. Trong khi chờ Ngân hàng cho vay tiền thì chị D còn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mớ i hô ̣ anh (GCNQSD đất do Sở Tài Nguyên và môi trườ ng cấp mang tên cả hai vợ chồng ). Sau mô ̣t thờ i gian th ì Ngân hàng trả lờ i là không cho vay, số tiền 20.000.000đ chi ̣ Y tính vào tiền lãi. Chị Y yêu cầu vợ chồng anh sang tên nhà đất cho ch ị Y, nhưng vợ chồng anh không đồng ý. Do số nợ bên ngoài và khoản lai quã

́ lớ n vợ chồng anh chi ̣ được chi ̣ D giớ i thiê ̣u vớ i anh H và được anh H giúp đỡ cho vay tiền , đến ngày 20 tháng 6 năm 2018 vợ chồng anh đã chuyển nhượng nhà, đất cho anh H với giá 5.000.000.000đ và đã nhận đủ tiền như anh H khai ở trên là đúng. Cho đến nay vợ chồng anh vẫn nhất trí chuyển nhượng nhà đất cho anh H, còn việc vay tiền giữa anh và chị D và Y đã được giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuậncủa các bên tại Tòa án TP. Thái Nguyên, không liên quan đến viê ̣c vợ chồng anh chuyển nhượng nhà , đất cho anh H.

Chị Th (vợ anh N), nhất trí lờ i khai và có quan điểm như anh N.

Bà Ng là người đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền của ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Y trình bày: Chị Y đa đượ̃

c vợ chồng anh N và chị Th chuyển nhượng thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35, diê ̣n tich 142m2 tại phường TĐ, thành phố TN.

́

Nhưng sau đó anh N, chị Th không thực hiê ̣n viê ̣c chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất đối vớ i thử a đất này cho chị Y nên chị Y đa khỡ

̉ i kiê ̣n anh N ra Tòa án. Hiê ̣n tại bản án có hiệu lực ph áp luật và đang được Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên thi hành theo quy đi ̣nh , do đó chị Y không đồng ý viê ̣c thực hiê ̣n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và tài sản gắn liền vớ i đất theo hợp đồng công chứ ng số 2626 của Văn phòng công chứ ng TT giữa anh H vớ i vợ chồng anh N chị Th vì hai bên có dấu hiệu tẩu tán tài sản, giá trị tài sản lớn nhưng chỉ chuyển nhượng với giá thấp, thấp hơn giá nhà nướ c quy đi ̣nh. Ngoài ra chị Yê còn có đơn gửi UBND thành phố Thái Nguyên đề nghị dừng việc chuyển nhượn g quyền sử du ̣ng đất của anh N và chị Th, anh Hu thừ a biết viê ̣c UBND thành phố Thái Nguyên không cho phép chuyển nhượng n hưng vẫn nhâ ̣n chuyển nhượng . Đến ngày 7/12/2018 Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên có quyết đi ̣nh số 03/QĐCCTHADS, về viê ̣c ta ̣m dừ ng viê ̣c đăng ký chuyển nhượng QSD đất thay đổi tra ̣ng thái tài sản của anh N , chị Th và ngày 11/12/2018 Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên ti

ếp tục ban hành Quyết đi ̣nh số 09/QĐCCTHADS về viê ̣c cưỡng chế kê biên quyền sử du ̣ng đất đối vớ i thử a đất nói trên để thi hành án cho chị Yê. Do vậy đề nghị Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất giữa anh H và vợ chồng anh N, chị Th là vô hiệu.

Chị D trình bày: Anh N có vay ch ị 1.600.000.000đ, do anh N không trả được chịđã khởi kiện anh Nra Tòa án. Tại Quyết định công nhận sự th ỏa thuâ ̣n số 33/2018/QĐST - DS ngày 9/10/2018, thỏa thuận anh N trả chị số tiền 1.600.000.000đ. Do anh N không tự nguyê ̣n thi h ành nên chị đa cõ ́ đơn yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự TP. Thái Nguyên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án. Ngày 7/12/2018, Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên ban hành Quyết đi ̣nh số 03/QĐCCTHADS, về viê ̣c ta ̣m dừ ng viê ̣c đăng ký chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất thay đổ i tra ̣ng thái tài sản của anh Nam chi ̣ Thảo , đến ngày 11/12/2018 Chi cu ̣c thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên ti ếp tục ban hành Quyết đi ̣nh số 09/QĐCCTHADS về viê ̣c cưỡng chế kê biên QSD đất đối vớ i thử a đất nói trên để thi hành án cho chị và chị Yê. Chị đề nghị Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa anh H và vợ chồng anh N và chị Tha vì nhằm mục đich tẩu tán tài sản trốn tránh nghia vu ̣ trả nợ tài sản đa đượ̃

c cưỡng chế kê biên ́

̃ thi hành án.

Bà L là ngườiđại diện theo ủy quyền của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự TP

Thái Nguyên trình bày : Chi cu ̣c THADS thành phố Thái Nguyên đang thi hành Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n số 33/QĐST- DS ngày 9/10/2018; Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n sự thỏa thuâ ̣n số 43/QĐST-DS ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên , theo đơn yêu cầu thi hành án của chị D và chị Y; Ngày 5/12/2018 Chi cu ̣c THADS TP Th ái Nguyên đã ban hành Quyết định thi hành án số 47/QĐCCTHADS thi hành khoản ti ền mà anh N, chị Th phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Y 1.500.000.000đ và khoản lai suẫ

́t châ ̣m thi hành án theo quy đi ̣nh.

Quá trình tổ chức thi hành án , ngườ i được thi hành án có đơn đề nghi ̣ Chi

cục THADS TP Thái Nguyên áp du ̣ng biê ̣n pháp bảo đảm ta ̣m dừ ng viê ̣c đăng ký , chuyển quyền sở hữu , sử du ̣ng, thay đổi hiê ̣n tra ̣ng tài sản đối vớ i các tài sản của anh N và chị Th gồm:...Quyền sử du ̣ng đất và tài sản trên đất diê ̣n tich 142m2

́ thuô ̣c thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35 tại phường TĐ, thành phố Thái Nguyên , đất đa đượ c UBND TP Thã

́i Nguyên cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSD đất số CM 666581 ngày 30/5/2018 mang tên anh N và chị Th. Căn cứ khoản 5 Điều 20, điều 69 Luâ ̣t THADS chấp hành viên đa ban hã

̀nh Quyết đi ̣nh ta ̣m dừ ng đăng ký chuyển quyền sở hữu s ử dụng thay đổi hiện trạng số 03/QĐ-CCTHADS ngày 7/12/2018 tạm dừng việc chuyển nhượng đối với các tài sản trên

. Ngày 10/12/2018 xác minh tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố T

hái Nguyên được biết anh N và chị Th được Sở tài nguyên môi trườ ng tinh Thả

́i Nguyên cấp giấy chứ ng nhâ ̣n QSD đất và tài sản trên đất có diê ̣n tich 142m2 thuô ̣c

́ thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35 tại phường Thịnh Đán , thành phố Thái Nguyên , đất đã được Sở Tài Nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận QSD đất số CM 66581 ngày 30/5/2018 mang tên anh N và chị Th. Tính đến ngày xác minh 10/12/2018 tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T hái Nguyên chưa tiếp nhâ ̣n hồ sơ chuyển nhượng của anh N chị Th đối vớ i quyền sử dụng thửa đất số 113, tờ bản đồ số 35 tại phường TĐ Chấp hành viên xác đi ̣nh thuô ̣c quyền quản lý sử du ̣ng của anh N, chị Th. Theo khoản 7, Điều 95 Luâ ̣t đất đai năm 2014 “Viê ̣c đăng ký đất đai , tài sản gắn liền với đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký vào sổ đa ̣i chinh” Căn cứ Điều 70,71, 110,111 Luật THADS được

́ sử a đổi bổ sung năm 2014, Chấp hành viên đã ban hành Quyết đi ̣nh kê biên số 09/QĐ-CCTHADS ngày 11/12/2018, kê biên tài sản là quyền sử du ̣ng đất và tài sản trên đất nêu trên của anh N, chị Th là đúng quy định pháp luật.

Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đãđưa vụán ra xét xử. Tại bảnán số 24/2019/DSST, ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã quyết định:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 39, Điều 157, Điều 165, Điều 200 và Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự ; Điều 117, 500, 502, 503 Bô ̣ luâ ̣t dân sự 2015, Điều 100 Luâ ̣t đất đai

2013 và Điều 122 Luật nhà ở. Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn Ông H đối vớ i bi ̣ đơn ông N và bà T. 2. Công nhâ ̣n hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và tài sản gắn liền với đất giữa Ông N, chị Th vớ i ông H theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử du ̣ng đất và tài sản gắn liến vớ i đấtngày 21/8/2018gồm có diê ̣n tich là 142m2 trong đó

́ đất ở ta ̣i đô thi ̣ 80m2, đất trồng cây lâu năm 62m2, thử a đất 113, tờ bản đồ số 35, phườ ng TĐ, thành phố TN (có tuyên các tứ cận).

Ông H được quyền đến cơ quan Nhà nướ c có thẩm quyền thực hiê ̣n viê ̣c

đăng ký quyền sử du ̣ng đất theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

Án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lê ̣ phi và quyền kháng cáo của đương sự.

́

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/7/2019 VKS nhân dân thành phố Thái Nguyên kháng nghị, tại Quyết định kháng nghị số 02/QĐKNPT - VKS - DS, nội dung của kháng nghị do Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên vi phạm trọng việc áp dụng pháp luật nên dẫn đến đường lối giải quyết sai. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 01/7//2019 và ngày 03/7/2019, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị D và chị Y kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất giữa anh H và vợ chồng anh N, chị Th là vô hiệu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ u các tài liê ̣u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm

tra ta ̣i phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện VKS phát biểu ý kiến, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh:

[1.] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS tinh Thả

́

i Nguyên, đính chính nội dung “Quyết định kháng nghị phúc thẩm bản án số 21/2019/DSPT ngày 21/6/2019…”, là “Quyết định kháng nghị phúc thẩm bản án số 24/2019/DSPT ngày 21/6/2019…”, (do sơ suất lỗi chinh tả). Các nội dung khác

́ của Quyết định kháng nghị giữ nguyên.

Đương sự có kháng cáo chị D và bà Ngh đại diện theo ủy quyền của chị Y, giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Quyết định kháng nghị của VKS nhân dân thành phố Thái Nguyên ban hành trong hạn Luật định, kháng cáo của chị D, chị Y trong hạn và đã nộp dự phí kháng cáo là hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về quan hệ pháp luật: Tòa sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26, của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.] Về nội dung: Xét các nội dung kháng nghị của VKS thành phố Thái Nguyên và kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị D, chị Y.

Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ngày 20/6/2018 vợ chồng anh N và chị Th đã chuyển nhượng cho anh H, diện tích đất 142m2 (trong đó có 80m2 đất ở đô thi ̣, 62m2 đất trồng cây lâu), thuô ̣c thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35 và tài sản trên đất là nhà xây , lợp mái tôn + prôximăng với giá 5 tỷ đồng (đất đã có giấy chứ ng nhâ ̣n QSD đất là CM 666581 do Sở Tài nguyên và môi trườ ng tinh Thả

́i Nguyên cấp ngày 30/5/2018, mang tên anh N, chị Th, địa chỉ thửa đất phường TĐ, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên), hai bên lập “Giấy bán nhà - bán đất”, bên mua anh H cũng trả xong cho vợ chồng anh N, chị Th 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng).

Cho đến nay hợp đồng không tiếp tục thực hiện được là do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên đa ban hã

̀nh

Quyết đi ̣nh ta ̣m dừ ng đăng ký chuyển quyền sở hữu sử du ̣ng thay đổi hiê ̣n tra ̣ng số

03/QĐ-CCTHADS ngày 7/12/2018 và Quyết định kê biên số 09/QĐ-CCTHADS ngày 11/12/2018, cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử du ̣ng th ửa đất số 113 và nhà trên đất của anh N, chị Th để thi hành nghĩa vụ trả nợ của anh N cho chị D 1.600.000.000đ; Nghĩa vụ trả nợ của anh N, chị Th với chị Y số tiền 1.500.000.000đ, theo Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n thỏa thuâ ̣n số 33/QĐST- DS ngày 9/10/2018 (đối với chị D) và Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n thỏa thuâ ̣n số 43/QĐST-DS ngày 28/11/2018 (đối với chị Y), của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên cho rằng việc ra Quyết đi ̣nh ta ̣m dừ ng đăng ký chuyển quyền sở hữu sử du ̣ng thay đổi hiê ̣n tra ̣ng số 03/QĐ-CCTHADS ngày 7/12/2018 và Quyết đi ̣nh kê biên số 09/QĐ-CCTHADS ngày 11/12/2018, cưỡng chế kê biên tài sản là quyền sử du ̣ng th ửa đất số 113 và nhà trên đất của anh N, chị Th để thi hành nghĩa vụ của anh N, chị Th với chị D và chị Y là đúng quy định vì qua xác minh ta ̣i Chi nhánh Văn phòng đă ng ký đất đai thành phố Thái Nguyên thì nhà, đất trên vẫn mang tên anh N, chị Th.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị D, chị Y xác định không tham gia giao dịch mua bán nhà, đất giữa vợ chồng anh N, chị Th và anh H, nhưng đề nghị Tòa án không công nhận hợp đồng vì việc chuyển nhượng này nhằm mụcđích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của anh N, chị Th đối với chị D và chị Y.

Với các tài liệu, chứng cứ trên có căn cứ x ácđịnh tại thờ i điểm vợ chồng

anh N, chị Th chuyển nhượng nhà , đất (thửa đất 113, TBĐ số 35) cho anh H thì anh N, chị Th chưa phải thực hiê ̣n nghia vu ̣̃

cho Bản án hoă ̣c Quyết đi ̣nh nào đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án . Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n thỏa thuâ ̣n số 33/QĐST-DS ngày 9/10/2018 (đối với chị D) và Quyết đi ̣nh công nhâ ̣n thỏa thuâ ̣n số 43/QĐST-DS ngày 28/11/2018 (đối với chị Y), của Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên, có hiệu lực thi hành sau khi vợ chồng anh N , chị Th chuyển nhượng nhà đất cho anh H . Mă ̣t khác chi ̣ Y , chị D cho rằng đây là hành vi tẩu tán tài sản của vợ chồng anh N, chị Th nhưng không có căn cứ chứ ng minh.

Vợ chồng anh N , chị Th và anh H thực hiê ̣n giao di ̣ch mua bán ngày

20/6/2018, hợp đồng chuyển nhượng nhà , đất đã được Văn phòng Công chứng TT, TP. TN công chứng ngày 21/8/2018, vợ chồng anh N , chị Th đa nhâ ̣̃

n đủ số tiền 5.000.000.000đ của anh H . Do vậy Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên chấp nhận đơn khởi kiện của anh H công nhận hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa anh H và vợ chồng anh N, chị Th là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên việc Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên áp dụng Thông tư 14/2010/TTLT-BTP – TANDTC - VKSNDTC ngày 26/7/2010 là không đúng vì thông tư này đã không còn hiệu lực mà phải áp dụng Nghị định

62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ và các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để công nhận hợp đồng.

Khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ quy định:

“1. Kể từ thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chuyển đổi, tặng cho, bán, chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố tài sản cho người khác mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án và không còn tài sản khác hoặc tài sản khác không đủ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên, xử lý để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác…”.

Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015, điều kiê ̣n có hiê ̣u lực của giao di ̣ch , quy đi ̣nh: “Giao di ̣ch dân sự có hiê ̣u lực khi có đủ cá c điều kiê ̣n sau:

a. Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hà nh vi dân sự…

b. Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

c. Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của

pháp luật, không trá i đạo đứ c xã hội..”.

Khoản 1, Điều 122 Luâ ̣t nhà ở năm 2014, quy đi ̣nh về thờ i điểm có hiê ̣u lực

của hợp đồng : “Trườ ng hợp mua bá n…nhà ở…thờ i điểm có hiê ̣u lực của hợp đồng là thờ i điểm công chứ ng, chứ ng thực hợp đồng”.

Hợp đồng chuyển như ợng giữa vợ chồng anh N , chị Th không vi pha ̣m c ác điều cấm của pháp luâ ̣t nên viê ̣c Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên kê biên nhà, đất của anh N, chị Th đã chuyển nhượng cho anh H là không đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền cho chị Y cho rằng Tòa sơ thẩm vi phạm tố tụng như xác định sai quan hệ pháp luật , đây không phải quan hê ̣ pháp luâ ̣t tranh chấp hợp đồng . Tòa sơ thẩm xác định bà L là người đại diê ̣n theo ủy quyền của Chi cu ̣c thi hành án dân sự từ khi chưa có ủy quyền của Chi cu ̣c trưở ng Chi cu ̣c THADS TP . Thái Nguyên (trướ c khi bà L tham gia tố tụng tại Tòa án , Chi cu ̣c trưở ng Chi cu ̣c THAD S thành phố Thái Nguyên ủy quyền cho ông B).

Về nô ̣i dung này , theo yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn anh H , Tòa sơ thẩm xác đi ̣nh tranh chấp hợp đồng là đúng quy đi ̣nh ta ̣i khoản

3, Điều 26/BLTTDS.

Về ngườ i đa ̣i d iê ̣n theo ủy quyền của Chi cu ̣c thi hành án dân sự TP Thái

Nguyên: Ngày 10/4/2019 Chi cu ̣c trưở ng Chi cu ̣c THADS TP Thái Nguyên ủy quyềncho ông B, là Chấp hành viên của Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên, tham gia tố tu ̣ng ta ̣i Tòa án. Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐST

- DS của Tòa án nhân dân TP Thái Nguyên , xác định người đại diện theo ủy quyền của Chi cu ̣c THADS TP Thái Nguyên là ông B. Tại Biên bản thảo luận v à Quyết đi ̣nh hoan phiên tõ

̀a của Hô ̣i đồng xét xử sơ thẩm của phiên tòa lần thứ nhất ngày 22/4/2019 và phiên tòa lần thứ hai ngày 10/5/2019, đều xác định ông Bình là người đại diện theo ủy quyền của Chi cục THADS TP Thái Ng uyên.Thực tế ông B có mặt tại hai phiên tòa (ngày 22/4/2019 và 10/5/2019), nhưng biên bản phiên tòa của hai phiên tòa này la ̣i ghi bà L là người đại diện theo ủy quyền của Chi cu ̣c THADS TP Thái Nguyên . Tòa án nhân dân TP. Thái Nguyên đã có giải trình là do có nhầm lẫn nên không coi đây là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

Do vâ ̣y không có căn cứ chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ của VKS nhân dân TP Thái

Nguyên, cũng như không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị D và chị Y về viê ̣c hủy án sơ thẩm , không công nhâ ̣n hợp đồng chuyển nhượng nhà , đất giữa anh H và vợ chồng anh N, chị Th. Sử a á n sơ thẩm về phần áp du ̣ng các pháp luâ ̣t.

Về án phi: Đương sự phải chi ̣u án phi theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t .

́

́

Tại phiên tòa, đại diện VKS nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng tố tụng. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhâ ̣n kháng nghi ̣ của VKS nhân dânthành phố Thái Nguyên, kháng cáo của người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan chị D, chị Y, hủy bản án sơ thẩm.

Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền lợi cho chi ̣ D đề nghị hủy án sơ thẩm do vi phạm tố tụng và thu thâ ̣p đánh giá chứ ng cứ chưa đầy đu. ̉

Từ sự phân tích trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp du ̣ng khoản 2 Điều 308 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng dân sự, không chấp nhâ ̣n kháng nghị của VKSnhân dân thành phố Thái Nguyên, không chấp nhâ ̣n kháng cáo của ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan chị D và chị Y.Sử a bản án dân sự sơ thẩm số 24/2019/DS-ST, ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về áp du ̣ng pháp luâ ̣t.

Áp dụng Điều 117/BLDS; Điều 122 Luật nhà ở năm 2014.Khoản 1 Điều 24 Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính Phủ. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khở i kiê ̣n của nguyên đơn anh H yêu cầu anh N và chị Th thực hiê ̣n hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà, quyền sử du ̣ng đất.

2. Xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấ t và tài sản gắn liền với đất giữa anh N, chị Th vớ i anh H đối vớ i thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35, có diê ̣n tich là 142m2 (trong đó đất ở ta ̣i đô thi ̣ 80m2, đất trồng cây lâu năm 62m2)

́ và tài sản gắn liến với đất . Đi ̣a chỉ nhà, đất phườ ng TĐ, thành phố TN đa có giẫ

́y chứ ng nhâ ̣n QSD đất số CM 666581 do Sở Tài nguyên và môi trườ ng tỉnh Thái Nguyên cấp ngày 30/5/2018, mang tên anh N và chị Th, đã được Văn phòng Công chứng TT, công chứng ngày 21/8/2018 có hiệu lực pháp luật.

3. Anh H được quyền đến cơ quan Nhà nướ c có thẩm quyền thực hiê ̣n viê ̣c đăng ký quyền sử du ̣ng đất , sở hữu nhà đối vớ i thử a đất số 113, tờ bản đồ số 35, có diê ̣n tich là 142m2 (trong đó đất ở ta ̣i đô thi ̣ 80m2, đất trồng cây lâu năm 62m2),

́ và tài sản gắn liến với đất. Đi ̣a chỉ nhà, đất phườ ng TĐ, thành phố TN, đa có giẫ

́y chứ ng nhâ ̣n QSD đất số CM 666581 do Sở Tài nguyên và môi trườ ng tinh Thả

́i Nguyên cấp ngày 30/5/2018, mang tên anh N và chị Th theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

4.Về chi phí tố tụng: Anh H tự nguyện chịu chi phí tố tụng theo quy định

của pháp luật (đa thự̃

c hiê ̣n xong).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm : Anh H tự nguyện nộp số tiền 300.000đ án phi

́ dân sự sơ thẩm sung quy Nhã

̀ nướ c , được trừ vào biên lai thu tạm ứng án phí số 0006858 ngày 25 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự TP Thái Nguyên .

Án phí phúc thẩm: Chị D và chị Y, không phải chi ̣u án phi phúc thẩm , mỗi

́ ngườ i được hoàn la ̣i 300.000đ dự phi đa nô ̣̃ p , theo biên lai thu số 0001929 ngày

́

09/7/2019 và biên lai thu số 0001930 ngày 09/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật./.

Cỡ chữ